5 câu chuyện cảm động về loài hoa anh đào Nhật Bản

Dù không phải là quốc hoa của Nhật Bản nhưng hoa anh đào luôn được xem là nguồn cảm hứng cho các nhà văn, nhà thơ, họa sĩ để sáng tác nên những tác phẩm nghệ thuật của mình. Không chỉ xuất hiện trong các bức vẽ hay những bài thơ, hoa anh đào vốn đã gắn bó với người Nhật từ xa xưa qua những câu chuyện và dần trở thành một hình tượng dẫu quen thuộc nhưng mang rất nhiều ý nghĩa biểu tượng sâu sắc.

Sự tích hoa anh đào

Chuyện kể rằng ngày xưa, tại một ngôi làng nhỏ xinh ven núi Phú Sĩ, có một chàng trai khôi ngô, tuấn tú, dũng cảm khác thường. Năm chàng mới tròn 1 tuổi, có một đạo sĩ phiêu bạt ghé qua nhà, nhìn cậu bé, mỉm cười và đặt vào trong tay người cha một thanh sắt đen bóng. Rồi đạo sĩ lặng lẽ rời đi. Lúc đó đang là mùa đông tuyết rơi tầm tã. Vị đạo sĩ đi khuất trong mưa tuyết rồi mà người cha vẫn thẫn thờ nhìn trông theo.

Người cha đặt thanh kiếm vào tay người vợ trẻ, thì thầm: “Hãy cất kỹ và giao thanh sắt này lại cho con trai chúng ta khi nó tròn 14 tuổi. Số phận đã an bài nó sẽ trở thành một kiếm sĩ lừng danh”. Sau đó, người cha qua đời. Người vợ trẻ ở vậy một mình nuôi dạy con. Đến năm cậu bé tròn 14 tuổi, thanh sắt được trao lại cho cậu. Cậu rùng mình vuốt ve kỷ vật huyền bí nặng nề này. Như có một sức mạnh kỳ lạ, khao khát khó hiểu tràn ngập thân thể của cậu. Người mẹ chưa kịp nói gì thì cậu đã run rẩy thốt lên trong cảm xúc nghẹn ngào: “Ta phải trở thành một kiếm sĩ nổi tiếng nhất đất nước này”, sau đó chàng trai đến rạp đầu xin thụ giáo một võ sĩ đạo lừng danh. Vị Samurai ngắm nhìn chàng trai từ đầu đến chân, trầm ngâm suy tư bất động hàng giờ liền. Cuối cùng ông thở dài lẩm bẩm một mình: “Oan nghiệt” và chấp thuận.

Thời gian thấm thoát thoi đưa, tuổi 18 thanh xuân tràn trề sức sống đến với người kiếm sĩ. Tay kiếm của chàng khiến những Samurai kiêu hùng nhất cũng phải e dè. Nhưng còn thanh sắt? Chàng đã tự mình rèn nó thành thanh kiếm sáng ngời đầy uy lực. Nhưng chưa được. Một thanh kiếm báu thực sự phải được tắm mình trong máu ngay trong ngày khai trận. Biết nhúng lưỡi thép uy lực này vào máu ai khi chàng chưa hề có kẻ thù, khi chàng chưa hề đối mặt với kẻ cướp, khi chàng chưa tìm được bất cứ lý do gì để quyết đấu một phen? Lúc này người mẹ và người thầy của chàng đã khuất núi. Cô gái duy nhất của vị võ sư lừng danh năm xưa là người thân yêu còn lại duy nhất của chàng.

Mỗi ngày khi nắng đã tàn lụi trên núi Phú Sĩ, đêm đã tràn ngập trên xóm núi, cô gái lại buồn bã nhìn chàng ngồi bất động, trầm tư bên bếp lửa. Chàng không còn cười nữa, mắt chàng lạnh như tuyết, chàng ôm thanh kiếm mà ước mơ ngày nó được tắm mình trong máu để trở thành bảo kiếm vô địch thiên hạ.

Cô gái hỏi: “Anh thân yêu! Có phải chăng đối với anh thanh kiếm này là tất cả? Nếu nó không được tắm mình trong máu để ngập trong khí thiêng thì anh sẽ mãi mãi buồn đau?”

Nhìn vào bếp lửa, chàng trai vuốt ve thanh kiếm trong lòng và nói chậm rãi rất quả quyết: “Chỉ buồn đau thôi ư? Không đâu! Đối với anh, thanh kiếm là sự nghiệp, là cuộc sống, là tất cả….. làm sao anh có thể coi mình là một võ sĩ đạo chân chính khi thanh kiếm của anh chưa từng no say trong máu? Trời ơi! Anh chết mất! Sao thời buổi này yên bình đến thế? Sao không có kẻ cướp nào thúc giục anh xuống kiếm. Không có kẻ cuồng ngông nào thách đấu với anh?”.

Cô gái mỉm cười đau đớn. Cô chỉ hỏi để khẳng định quyết tâm của mình thôi: “Anh thân yêu! Cho em được cầm lấy thanh kiếm của chàng một chút thôi”. Rồi cô cầm thanh kiếm đen bóng, sắc lạnh và nhìn chàng bằng ánh mắt buồn thăm thẳm rồi đột ngột đâm thẳng vào tim. Máu trào ra ướt đẫm tấm thân mảnh dẻ của nàng, nhuộm hồng chiếc áo Kimono trắng nõn, trinh bạch. Chàng trai hốt hoảng rú lên kinh hoàng, vươn tay rút phăng thanh kiếm khỏi lồng ngực cô gái. Dưới ánh lửa bập bùng, thanh kiếm ngời sắc xanh rực rỡ, hào quang lóe lên lộng lẫy lạ thường: nó đã được no mình trong máu!

Nhưng cũng từ đó, chàng trai hoàn toàn cô độc. Không Samurai nào thèm kết bạn với anh. Họ nhìn sang chỗ khác khi đối mặt trên con đường hẹp. Họ rời khỏi quán trà khi anh bước vào. Họ từ chối khi anh thách đấu.

Cho đến một hôm, một buổi chiều mùa đông, khi những bông tuyết đầu mùa vừa rơi, chàng trai ôm thanh kiếm đến bên mộ cô gái. Chàng thì thầm: “Tha lỗi cho anh. Anh đã hiểu ra rồi…”. Chàng bình thản cắm sâu mũi kiếm vào bụng rạch một đường mạnh mẽ và rút kiếm ra phủ gục bên cạnh mộ. Thanh bảo kiếm cắm sâu vào mộ đất…. Tuyết không ngừng rơi…. Đến sáng, tuyết đã ôm trọn chàng trai và ngôi mộ vào vòng tay của mình. Chỉ còn lại một cây hoa lạ, mơn mởn vươn lên tươi cười, hồng thắm. Không ai biết hoa hoá thân từ thanh kiếm ấy. Người ta đặt tên hoa là Anh đào.

Hoa anh đào không thể đẹp nếu đứng độc lập một mình, mà chỉ đẹp khi nở rộ thành tảng mây hoa. Cũng như con người Nhật Bản không thể mạnh khi đứng một mình, mà cần phải biết tạo nên sức mạnh hùng cường của sự đoàn kết.

Hoa anh đào rụng một cách khoan dung, buồn bã và hùng hồn. Khoan dung vì chỉ sau vài ngày nở sẽ là hoa bắt đầu héo; buồn là vì nó nhắc nhở đến cuộc đời mong manh và ngắn ngủi. Hùng hồn vì loài hoa này đã thể hiện một nét thẩm mỹ đáng tự hào của người Nhật rằng những gì đẹp trong thiên nhiên và trong cả cuộc đời thường hiếm khi tồn tại lâu, và chính sự tàn phai sớm cũng là một nét đẹp, hoa anh đào tàn khi nó đẹp nhất, một cái đẹp cao cả nhất. Người Nhật có câu: “Nếu là hoa, xin làm hoa anh đào. Mang kiếp người, nguyện làm kiếp võ sĩ đạo”. Điều đó có nghĩa là, khi một võ sĩ đạo đối mặt với hiểm nguy, anh ta không run sợ trước cái chết, bởi vì, giống như hoa anh đào, anh ta sẽ tự đâm mình và gục xuống ngay lập tức, không ngần ngại.

Câu chuyện tình yêu và sự hi sinh (Shinjitsu no Ai no Monogatari)

Chuyện kể rằng vào thời cổ đại, nước Nhật xảy ra vô vàn trận chiến giữa các lãnh chúa phong kiến, cuộc chiến này tiếp nối cuộc chiến khác khiến cho cả nước chìm trong sự buồn bã, tang thương. Tuy nhiên, tại đây vẫn tồn tại một khu rừng tuyệt đẹp mà các cuộc chiến không thể xâm phạm. Cây lá nơi đây như tỏa ra một mùi hương tinh tế an ủi tâm hồn của con người. Trong khu rừng đó, có một cái cây sừng sững, vẫn sống nhưng lại chẳng bao giờ ra hoa. Chính vì điều này mà trông nó khô khan cằn cỗi như thể đã chết khô. Có lẽ vì vậy mà cây cỏ sợ hãi chẳng dám mọc gần cái cây này, cả muông thú cũng không đến gần. Người bạn đồng hành duy nhất của cây, chính là cô đơn.

Một đêm nọ, một nàng tiên trong rừng đã hiện ra và hỏi cây rằng có muốn được ra hoa và rạng rỡ không, nếu muốn cô có thể giúp. Cây suy nghĩ và đáp rằng: cây đề nghị được một phép chú kéo dài 20 năm. Trong 20 năm đó, cây có thể cảm nhận được những gì mà trái tim con người cảm thấy. Có khi cây sẽ tìm được động lực để cố gắng ra hoa một lần nữa.

Nàng tiên cho biết rằng cây có thể biến thành hình người và trở lại hình dạng cây tùy ý. Tuy nhiên, nếu sau 20 năm mà cây không thể phục hồi được sức sống và vẻ đẹp vốn có, cây có thể sẽ chết ngay lập tức.

Đúng như lời của nàng tiên, cây có thể biến hóa giữa hình dáng của một người đàn ông và dáng cây theo ý muốn. Cây luôn cố gắng ở hình dáng con người lâu hơn một chút để bản thân cảm nhận được những điều mới lạ xung quanh. Nhưng thời điểm ấy, tất cả những gì cây cảm nhận được đều là sự thù hận, đau buồn và những cuộc chiến triền miên. Do đó, cây lại biến trở thành hình dáng ban đầu.

Năm tháng trôi qua, cây vẫn không tìm được những cảm xúc nào tạo bước ngoặt cuộc đời như nó hằng hi vọng. Cho đến một ngày, trong hình dáng con người, cây đi đến một con suối và gặp một cô gái xinh đẹp ở đó. Vì bị vẻ ngoài xinh đẹp cuốn hút, cây vô thức đến gần cô gái. Cô ấy là Sakura.

Sakura đối xử tử tế với cây. Để đáp trả, cây đã giúp cô mang nước từ suối về nhà. Trên suốt đoạn đường từ suối về nhà, cây và Sakura đã trò chuyện cùng nhau, nói ra cảm xúc về cuộc sống và những cuộc chiến, chia sẻ những ước mơ và hi vọng của cả hai.

Cho đến khi có một người hỏi cây tên gì, bỗng nhiên một từ chợt lóe trong đầu cây: “Yohiro”, có nghĩa là “hi vọng”. Giữa Yohiro và Sakura đã nảy sinh tình cảm bạn bè. Họ gặp nhau mỗi ngày để nói chuyện, hát, đọc cho nhau nghe những bài thơ và kể những câu chuyện tuyệt vời. Càng biết nhiều về Sakura, Yohiro càng cảm thấy rất cần có cô ấy ở cạnh bên. Những khi không được ở cùng Sakura, Yohiro cứ ngồi đếm từng giây phút trôi qua cho đến khi được gặp cô.

Một ngày nọ, Yohiro đã thổ lộ tình yêu của mình đến với Sakura. Và anh cũng thú nhận với cô rằng: anh bản chất là một cái cây đau khổ và sẽ sớm chết vì anh không thể nở hoa. Sakura dường như bị sốc và cô vẫn duy trì im lặng. Thời hạn 20 năm dành cho Yohiro sắp hết, anh buồn bã trở lại hình dạng của một cái cây.

Và rồi, vào một buổi chiều, Sakura đã đến bên Yohiro, cô ôm anh khóc và thú nhận rằng bản thân cũng yêu anh. Yohiro không muốn mình cứ thế chết đi, anh không muốn đón nhận những điều tồi tệ xảy đến với mình.

Lúc đó, nàng tiên năm xưa xuất hiện, nàng đã hỏi Sakura rằng: cô có muốn cùng hợp nhất với Yohiro và sống bằng hình dạng của một cái cây? Sakura dõi mắt nhìn ra những cánh đồng hoang vắng, khung cảnh hoang tàn bị chiến tranh tàn phá. Và cô quyết định hợp làm một với Yohiro mãi mãi. Từ giây phút Sakura và Yohiro hợp làm một, cái cây cằn cỗi bao năm bỗng chốc đơm hoa nở rộ. Vẻ đẹp của cây lan ra cả khu rừng và cả những vùng đất lân cận, từ đó, người ta gọi cây bằng cái tên “Sakura” tức là “hoa anh đào”.

Câu chuyện: Cây anh đào của nhũ mẫu (Ubazakura, Koizumi Yakumo)

Ngày xưa, tại một ngôi làng nọ tại Iyo, tỉnh Ehime có một người đàn ông tốt bụng tên là Tokubei. Ông vốn là trưởng làng và được người dân trong làng vô cùng kính nể. Dẫu đang sống một cuộc sống sung túc nhưng Tokubei lúc nào cũng canh cánh nỗi buồn trong lòng vì đã hơn 40 tuổi rồi nhưng vợ chồng ông vẫn chưa có được mụn con nào.

Vào một ngày nọ, Tokubei quyết định ghé thăm một ngôi chùa thiêng có tên là Saiho-ji ở làng Asami Mura. Ông thành tâm cầu nguyện để vợ ông sinh cho ông một người con. Mong ước của Tokubei đã động lòng thánh thần và chẳng bao lâu sau, vợ ông đã sinh ra một bé gái xinh xắn, đặt tên là Tsuyu. Nhưng vì người mẹ không có đủ sữa nên họ đã thuê một nhũ mẫu có tên là O-Sode đến để chăm sóc và nuôi nấng Tsuyu.

Tsuyu lớn lên trở thành một thiếu nữ xinh đẹp, kiều diễm, nhưng đến năm 15 tuổi, cô bé bỗng trở bệnh rất nặng đến nỗi tất cả thầy thuốc trong làng đều phải lắc đầu “bó tay”. Thấy bệnh tình của Tsuyu ngày càng nghiêm trọng, nhũ mẫu O-Sode – người yêu thương cô bé như con đẻ của mình, trong lòng vô cùng xót xa. Trong suốt 21 ngày sau đó, ngày nào O-Sode cũng lên chùa Saiho-ji để cầu cho Tsuyu sớm khỏi bệnh. Tấm lòng của nhũ mẫu O-Sode đã khiến thần linh phải cảm động và sau đó, Tsuyu bỗng nhiên khỏi bệnh. Vợ chồng Tokubei thấy vậy trong lòng vui mừng khôn xiết và quyết định chọn ngày đẹp mở tiệc ăn mừng cho sự bình phục của con gái.

Nhưng cũng vào đêm đó, nhũ mẫu O-Sode bỗng đổ bệnh. Ngày hôm sau, gia đình Tokubei cho mời một vị thầy lang đến bắt mạch bốc thuốc cho O-Sode nhưng ông chỉ lắc đầu nói người nhũ mẫu sắp đến lúc lâm chung và không còn cách nào cứu chữa. Nghe vậy, gia đình Tokubei vô cùng thương xót và đến bên giường bệnh của người nhũ mẫu. O-Sode liền nói: “Trước lúc lâm chung, nhũ mẫu có điều cần nói. Nhũ mẫu đã cầu nguyện xin thần Fudo-sama trên trời cao cho nhũ mẫu được thế mạng cho Tsuyu yêu quý. Thần Fudo-sama linh thiêng đã thấu hiểu được tấm lòng này và cho nhũ mẫu được toại nguyện. Vì vậy, nhũ mẫu có thể ra đi thanh thản rồi, xin mọi người đừng thương tiếc. Nhưng trước khi ra đi, nhũ mẫu chỉ có một yêu cầu. Nhũ mẫu đã hứa với thần Fudo-sama, nếu mong ước của mình thành hiện thực, nhũ mẫu sẽ trồng một cây anh đào trong chùa Saihoji để tạ ơn thần. Nhưng e rằng, nhũ mẫu không thể nào thực hiện được lời hứa đó, vì vậy, xin hãy thay nhũ mẫu làm tròn lời hứa ấy”.

Sau đó, O-Sode nói lời từ biệt và nhắm mắt ra đi. Sau khi người nhũ mẫu qua đời, Tokubei đã trồng một cây hoa anh đào đắt giá nhất trong khu vườn của chùa Saiho-ji. Cây lớn lên và ra hoa vào năm sau, đúng một năm sau khi O-Sode qua đời. Vào ngày 16 tháng Hai âm lịch hàng năm, cây anh đào bắt đầu ra hoa, những bông hoa mang một màu trắng và hồng tinh khôi đến lạ. Người dân trong làng vô cùng cảm động trước câu chuyện về nhũ mẫu O Sode và gọi cây anh đào này là Ubazakura, nghĩa là cây anh đào nhũ mẫu. Hình tượng cây anh đào này chính là biểu tượng đẹp về đức hi sinh, tấm lòng chân thành và tình yêu thương giữa con người với nhau.

Câu chuyện: Hoa Anh Đào ngày 16 (Jiu Roku Zakura, Koizumi Yakumo)

Ở huyện Wakegori của thành phố Iyo (nay thuộc tỉnh Ehime) có một cây anh đào cổ thụ tên là Jiuroku-zakura, hay còn được gọi là “Cây anh đào ngày 16” bởi lẽ cây hoa anh đào này không nở vào mùa hoa anh đào tháng 3 – 4 mà lại ra hoa vào tháng Giêng âm lịch hàng năm – thời điểm lạnh giá nhất trong năm. Tương truyền rằng, đó là do bên trong cây anh đào này có linh hồn của một võ sĩ Samurai.

Trước đây, cây anh đào này được trồng tại sân vườn của một võ sĩ samurai và đã gắn bó với gia đình của ông qua nhiều thế hệ. Thời thơ bé của ông gắn liền với những buổi chiều chơi đùa dưới gốc cây và những năm tháng sống cùng gia đình. Vì vậy, với ông, cây anh đào không chỉ là một cái cây thông thường, mà còn chứa đựng nhiều kỷ niệm quý báu. Theo thời gian, người thân của vị Samurai này dần mất đi, chỉ có mỗi cây anh đào là ở lại khiến ông ngày càng trân quý cây anh đào này hơn.

Cây chính là điều quý giá nhất còn lại trên đời với ông nhưng rồi một ngày, cây bắt đầu khô héo và chết. Vị Samurai đã rất đau khổ. Thấy vậy, những người hàng xóm đã đến an ủi và trồng cho ông một cây anh đào nhỏ khác để ông vơi đi nỗi buồn, nhưng mọi thứ vẫn không thay đổi.

Sau một thời gian, vào ngày 16 tháng Giêng năm nọ, khi đó vẫn còn là mùa đông, tuyết rơi phủ trắng vườn, vị Samurai già bước ra sân, cúi đầu trước cây hoa và thì thầm: “Làm ơn, xin hãy nở hoa một lần nữa, hãy nở hoa lần cuối và tôi nguyện sẽ hi sinh thay cho những bông hoa rực rỡ kia”. Sau đó, vì quá đau buồn, ông đã gục xuống gốc cây và tự sát. Linh hồn của vị Samurai đã hòa quyện vào cây và nở hoa trở lại. Kể từ đó, cây anh đào vẫn tiếp tục ra hoa ngay giữa mùa đông, vào ngày 16 tháng Giêng hàng năm.

Câu chuyện: Ông già làm hoa nở (Hanasaka Jiisan)

Ngày xửa ngày xưa, ở một ngôi làng nọ ở Nhật Bản, có đôi vợ chồng già sống trong một căn nhà nhỏ cùng chú chó của mình. Chú chó có màu trắng tinh và được đôi vợ chồng già thương yêu đặt tên là “Shiro” – có nghĩa là “màu trắng” trong tiếng Nhật. Một ngày nọ, khi đang chơi đùa trong sân, chú chó Shiro bỗng sủa vang và bắt đầu lấy chân cào xuống đất. Ông lão thấy làm lạ liền đào chỗ đó lên và phát hiện ra một chiếc nồi đất cũ đựng rất nhiều vàng.

Nghe tin ông lão đào được rất nhiều vàng, hai gã hàng xóm của ông đã nảy sinh lòng tham và đến hỏi ông lão cho mượn chú chó. Sau khi mang chú chó về nhà, hai gã dọa nạt và tìm mọi cách để bắt Shiro tìm vàng, nhưng chú chó chỉ đào được một khúc xương. Quá tức giận, hai gã hàng xóm đã giết chết chú chó. Tiếc thương chú chó của mình, ông lão đã mang Shiro đi chôn cất trong vườn và trồng một cái cây nhỏ trên mộ của chú. Theo thời gian, cây lớn rất nhanh và vào một đêm nộ, ông lão mơ thấy Shiro về nói với ông hãy chặt cây để làm một chiếc cối giã.

Sáng hôm sau, ông lão làm theo đúng theo lời của chú chó và khi dùng chiếc cối giã gạo, bất ngờ thay, gạo trong cối bỗng biến thành vàng. Người hàng xóm tham lam nọ biết chuyện, bèn đến mượn chiếc cối giã gạo của ông lão. Nhưng khi đem gạo vào giã, gạo trong cối chỉ biến thành rác. Bực tức, gã hàng xóm xấu xa mang cối đi đập nát rồi đốt thành tro. Đêm hôm sau, ông lão lại mơ thấy Shiro một lần nữa. Chú chó nói với ông lão hãy lấy tro của chiếc cối và rắc lên những cây hoa anh đào trong vườn. Sáng hôm sau, ông lão thức dậy và ra vườn rải một nắm tro. Tro theo gió, bay lên những cành cây khiến những hoa anh đào nở rộ.

Câu chuyện kỳ lạ của ông lão đã đến tai một vị lãnh chúa Daimyo sống tại một lâu đài gần đó. Vị lãnh chúa đi ngang qua, vô cùng ngạc nhiên và ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của những cây hoa anh đào, liền ban thưởng cho ông rất nhiều vàng. Lại một lần nữa, sau khi biết được ông lão được vị lãnh chúa thưởng hậu hĩnh, gã hàng xóm xấu xa lại nảy sinh lòng tham. Gã cũng ném một nắm tro lên cây nhưng tro bị gió thổi bay vào mắt của vị lãnh chúa. Tức giận, lãnh chúa tống gã vào ngục giam. Khi được thả, gã bị dân làng hắt hủi và đuổi ra khỏi ngôi làng.

Hoa anh đào trong truyện “Ông già làm hoa nở” này dù chỉ xuất hiện thoáng qua trong phần cuối câu chuyện nhưng lại mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc về lòng trung thành và sự biết ơn của chú chó Shiro với người chủ của mình. Đây cũng là lời nhắc nhở con người không được tham lam và phải sống khiêm nhường.

Những câu chuyện về hoa anh đào không chỉ khẳng định hình ảnh hoa anh đào luôn gắn bó mật thiết với cuộc sống hàng ngày của người dân Nhật Bản mà còn phần nào truyền tải những thông điệp ý nghĩa của cuộc sống đến con người. Hãy đồng hành cùng chúng tôi trong hành trình du lịch Nhật Bản để khám phá nhiều hơn về loài hoa anh đào xinh đẹp cũng như văn hóa “xứ Phù Tang”.