12 đền chùa có kiến trúc độc đáo tại tỉnh Nara, Nhật Bản

Trong lịch sử Nhật Bản có một thời kỳ mang tên “Nara”, đây cũng là tên của một tỉnh của “xứ Phù Tang”. Không phải vô tình mà điều này lại trùng hợp với nhau bởi trong thời kỳ này, Nara chính là thủ đô của Nhật Bản đến năm 784, và đây cũng là thủ đô đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản. Cố đô Nara rất nổi tiếng với các kiến trúc độc đáo của các ngôi chùa, đền thờ và khiến du khách không thể nào bỏ sót nơi nào khi đến với vùng đất này. 

Cùng quay lại lịch sử Nhật Bản, vào thế kỷ VIII, thời kỳ Nara, đây là thời kỳ đạo Phật phát triển mạnh mẽ. Với niềm tin, càng nhiều đền chùa thì đất nước sẽ ngày càng vững chắc, người dân sẽ được sống trong sự bảo hộ của Phật pháp vì thế những ngôi chùa cứ liên tục được xây dựng vào thời Nara.

Thêm vào đó, đây là thời kỳ bang giao với Trung Quốc tốt đẹp, Nhật Bản đã tiếp thu được những thành tựu về xây dựng, điêu khắc, và những sản phẩm văn hóa nghệ thuật của Trung Quốc cũng được Nhật Bản phát huy lên. Chính vì thế, ngày nay, du khách sẽ bắt gặp sự tương đồng, có chiều hướng giống nhau tại các ngôi chùa của Cố đô Nara và được xếp vào tài sản quốc gia của đất nước Nhật Bản.

Chùa Todai-ji

Chùa Todai-ji (Đông Đại Tự) là ngôi chùa bằng gỗ được coi là lớn nhất thế giới và là một trong những thánh địa Phật giáo quan trọng nhất ở “xứ Phù Tang”. Ngôi chùa được xây dựng lần đầu tiên vào năm 715 theo yêu cầu của Thiên hoàng Shomu. Thiên Hoàng Shomu (trị vì 724-749) là vị vua tôn sùng Phật giáo, để cầu mong đất nước thái bình, quốc thái dân an, ông đã cho xây dựng ngôi chùa này tại Kinh đô Nara, vừa là Tổng hành dinh quốc gia, vừa là trung tâm tôn giáo của cả nước.

Khi chiến tranh nổ ra, Chùa Todai-ji đã bị tàn phá hoàn toàn. Lần xây dựng lại thứ nhất là vào năm 1183 nhưng sau đó cũng bị chiến tranh phá hủy. Ngôi chùa được xây dựng lại lần thứ 2 vào năm 1692, nhưng có quy mô, kích thước nhỏ hơn ban đầu, được bảo tồn đến tận ngày nay.

Chùa Todai-ji có rất nhiều kiến trúc độc đáo, ví dụ cổng Sanmon lớn nhất Nhật Bản, Pháp Hoa điện với những bức tượng tuyệt đẹp đặt cạnh nhau, đặc biệt là Đại Phật điện, nơi đặt bức tượng Phật Todai-ji Rushana khắc họa hình ảnh Đức Phật Đại Nhật Như Lai (Đức Phật của ánh sáng). Bức tượng Phật cao đến 14,98m, khuôn mặt tượng Phật dài 5,33m, đôi mắt 1,02m, mũi cao 0,5m, đôi tai dài 2,54m với trọng lượng khoảng 550 tấn. 

Tư thế Đức Phật giơ lòng bàn tay phải lên hướng ra phía trước trong khi đặt tay trái lên đầu gối với lòng bàn tay ngửa lên trên mang ý nghĩa là Ngài dùng tay phải truyền sức mạnh cho chúng sanh đồng thời dùng tay trái để hứa sẽ đáp ứng lời cầu nguyện của họ. Phần thân chính của Đức Phật đã được tu sửa nhiều lần trong nhiều năm, nhưng phần đài sen được sử dụng làm đế và cả hai đầu gối vẫn giống như khi chúng được làm ra lần đầu tiên.

Chùa Kofuku-ji

Khu phức hợp chùa Kofuku-ji bao gồm 175 tòa nhà vào thời hoàng kim. Công trình được thành lập vào năm 669 và các tòa nhà còn sót lại bao gồm sảnh hình bát giác được gọi là Nan-endo. Được xây dựng vào năm 813, đây là nơi có bức tượng Fukukenjaku-Kannon được tạc vào năm 1188 cùng với những bức tượng rất tinh xảo về 4 vị thần bảo vệ thiên thể và 6 vị tổ của giáo phái Hosso.

Phía trước sảnh là một chiếc đèn lồng bằng đồng từ thế kỷ IX với dòng chữ được cho là của Kobo-daishi cũng như một ngôi chùa 3 tầng. Một tòa nhà đáng chú ý khác là Sảnh phía Bắc (Hoku-endo) có hình bát giác và được xây dựng cho Hoàng hậu Gensho vào năm 721 và nổi tiếng với bức tượng Miroku-bosatsu bằng gỗ từ thế kỷ 13. Đừng quên ghé thăm hội trường phía Đông (To-kondo) với bức tượng Yakushi-nyorai thế kỷ 15 cùng với một bức tượng thế kỷ thứ 8 cũ hơn!

Chùa Toshoda-ji

Được thành lập vào năm 759, Toshoda-ji được xây dựng làm ngôi chùa chính trong số 30 ngôi chùa của giáo phái Ritsu. Trong quá khứ, Chùa Toshodai-ji đã phát triển mạnh mẽ, rực rỡ và được xem như trụ sở đầu tiên của trường phái Phật giáo Ritsu-shu. Ngôi chùa do nhà sư Jianzhen thời Đường ở Trung Hoa chủ trì việc xây dựng và đây cũng là nơi ông sống trong những năm cuối đời.

Ngày nay, mặc dù chỉ có hai trong số các tòa nhà ban đầu còn tồn tại là “Sảnh chính” và “Giảng đường” nhưng địa điểm này vẫn giữ được phần lớn bố cục ban đầu và rất thú vị để khám phá.

Hội trường chính còn được gọi là “Hội trường vàng cổ điển” (Kondo) là ví dụ lớn nhất và tốt nhất về kiến ​​trúc Tempyo còn tồn tại ở Nhật Bản. Nó nổi tiếng với phòng trưng bày rộng lớn có nhiều cột và bức tượng Rushana-butsu ngồi lớn và vầng hào quang tráng lệ của nó được trang trí bằng 864 vị Phật nhỏ.

Giảng đường (Kodo) cũng đáng để khám phá và có nhiều tác phẩm điêu khắc tinh xảo, bao gồm một số được chạm khắc từ một mảnh gỗ bách. Các tòa nhà đáng chú ý khác là Khu của linh mục (Higashimuro), Hội trường giáo phái (Raido) và Tháp trống (Koro), nơi tổ chức lễ hội Uchiwa-maki vào tháng 5 hàng năm.

Chùa Yakushi-ji

Yakushi-ji là ngôi chùa chính của giáo phái Hosso, được hoàn thiện vào năm 680 bởi Hoàng đế Tenmu để cầu nguyện cho vợ mình là Hoàng hậu Jito khỏi bệnh. Ngôi chùa này được xây dựng theo kiểu kiến trúc Cung điện rồng nhưng đã bị phá hủy bởi những thảm họa do thiên nhiên và con người gây ra. Đến năm 1976, khu vực đền thờ Hakuho (Hakuho Garan) đã được khôi phục lại nguyên vẹn.

Cấu trúc của khu phức hợp chùa được bố trí theo lối phong cách Yakushi, bao gồm nhiều tòa nhà cũng như tượng Phật được công nhận là Bảo vật quốc gia hoặc Tài sản văn hóa quan trọng của Nhật Bản. Trong đó, sảnh chính Kondo với mái nhà được lợp bằng ngói đúc và nung là nơi lưu giữ các hình ảnh chính của ngôi chùa. Nơi đây lưu giữ những bức tượng Phật đẹp nhất thế giới là Bộ ba Dược sư gồm: Phật Dược sư, Nhật Quang Bồ Tát và Nguyệt Quang Bồ Tát, được làm từ 20 tấn đồng (ban đầu được mạ vàng) và là Kho báu quốc gia.

Hai ngôi chùa Đông và Tây là điểm đặc biệt của Yakushi-ji. Chùa Tây nằm bên cạnh sảnh chính và đối điện với chùa Đông, được xây dựng lại vào năm 1981 theo hình dạng của một bảo tháp với cấu trúc vòm trắng, chứa các mảnh xương của Đức Phật. Tại chùa Tây, hành trình giác ngộ của Đức Phật từ năm 35 tuổi đến khi qua đời ở tuổi 80 được nhà điêu khắc Nakamura Shinya thể hiện bằng những tấm phù điêu làm bằng đồng. Màu sắc của chùa Tây rực rỡ với đỏ và xanh, tương phản với chùa Đông, giúp gợi nhớ về thời kỳ hoàng kim của Yakushi-ji. Chùa Đông cao 33,9m là công trình bằng gỗ nguyên bản duy nhất còn tồn tại sau 1.300 năm. Chùa Đông có cấu trúc 3 tầng nhưng dường như có đến 6 mái với mái trên cùng và mái lớp thứ 2 là thật, còn những mái còn lại là mái hắt hay mái nghiêng. Những mái nhà này có sự chồng chéo lớn nhỏ tạo nên vẻ đẹp nhịp nhàng. Trên đỉnh Chùa Đông còn có một tháp nhọn bằng kim loại độc đáo là ví dụ duy nhất còn sót lại về kiến ​​trúc Phật giáo của thế kỷ thứ 7.

Ngoài ra, Chùa Yakushi-ji còn có những bức tượng Phật và tòa nhà có giá trị lịch sử và văn hóa cao như: tượng Bộ ba Phật Di Lặc (Tài sản văn hóa quan trọng), tượng Tứ đại Thiên Vương (Tài sản văn hóa quan trọng), tượng Quan Âm Bồ Tát (Kho báu quốc gia), Tojindo (thiền đường lâu đời nhất Nhật Bản), Bussokudo với phiến đá có dấu chân của Đức Phật, tháp chuông với quả chuông Hàn Quốc và kho báu chứa hai bức tranh đẹp về Kichijo-ten, nữ thần sắc đẹp và một linh mục Trung Quốc.

Chùa Gango-ji

Chùa Gango-ji là một di sản thế giới khác của Cố đô Nara và cũng là một trong 7 ngôi chùa vĩ đại của Nara. Đây là ngôi chùa có truyền thống Phật giáo lâu đời nhất Nhật Bản.

Gango-ji ban đầu đặt tại Asuka, tuy nhiên Hoàng hậu Gensho và Thiên hoàng Shomu đã ra lệnh di dời toàn bộ ngôi chùa đến Nara và xây dựng lại. Dù ngôi chùa đã được chính thức đổi tên thành Gango-ji, nhưng thỉnh thoảng người ta vẫn nhắc đến chùa với tên gọi Asuka của Nara.

Điểm thu hút chính của Chùa Gango-ji là Chính điện. Bao gồm 4 mạn đà la – các tác phẩm nghệ thuật Phật giáo. Tác phẩm lớn nhất trong đó miêu tả khung cảnh thiên đường với trẻ em trên đài hoa sen và các cây báu vật. Nếu tác phẩm này khiến du khách cảm thấy muốn chiêm niệm, bên cạnh mạn đà la là một ký tự tiếng Phạn tượng trưng cho chữ “A” và du khách được khuyến khích thiền định trước chữ cái này. Ngoài ra, trong Chính điện, du khách còn thấy được gần 200 bức tượng Bồ Tát được biết với tên “Jizo” – bên cạnh tượng của 12 vị thần tướng. Ngoài ra còn có vô số bức tượng gỗ khác với tên gọi “Mokuzo”. Nổi bật nhất trong đó là bức tượng Phật A Di Đà to lớn dát vàng lá có từ thế kỷ X.

Phía bên trái Chính điện còn có một điện nhỏ hơn dùng làm bảo tàng. Bên trong là một số những di vật quan trọng nhất của ngôi chùa. Vừa bước vào trong, du khách sẽ không thể rời mắt khỏi tòa tháp nhỏ như thể được dùng làm mô hình cho tòa tháp chùa lớn hơn. Đây là tháp chùa 5 tầng duy nhất mang kích thước bất kỳ còn tồn tại từ giai đoạn thịnh vượng thời Nara.

Chùa Horyu-ji

Horyu-ji là quần thể chùa hoàn toàn bằng gỗ được bảo tồn hoàn toàn ở Nhật Bản. Horyu-ji dịch theo nghĩa đen là “Chùa Phật pháp hưng thịnh” là một ví dụ tuyệt vời về kiến ​​trúc của thời kỳ Asuka từ năm 552 đến năm 645. Trên thực tế, nơi đây chứa đựng nhiều tác phẩm nghệ thuật bậc thầy bao trùm toàn bộ lịch sử Nhật Bản.

Được xây dựng vào năm 607 với tư cách là một trong 7 ngôi chùa lớn của Nara, Horyu-ji trở thành trung tâm Phật giáo vĩ đại ở Nhật Bản, từ đó đức tin mới được truyền bá khắp đất nước (vào thời đó, con đường từ Triều đình đến bờ biển đi qua khu đền thờ).

Trong chùa giá trị nhất là các pho tượng cùng nhiều đồ mỹ nghệ điêu khắc bằng gỗ và kim loại. Đặc biệt là Tượng Quan Âm Cứu thế (tượng Phật Quan Âm đứng) là bảo vật của quốc gia, bình thường sẽ không tham quan được nhưng hàng năm vào mùa xuân (từ 11/4 đến 18/5) và mùa thu (từ 22/10 đến 23/11) sẽ đặc biệt được công khai cho khách tham quan nên du khách hãy thử kết hợp đến thăm chùa vào thời gian này xem nhé! Đến với ngôi chùa này, du khách cũng không thể bỏ qua một số kiến trúc gỗ quan trọng như: Tòa Kim Đường, tháp 5 tầng, cổng trung môn và các hành lang.

Chùa Chugu-ji

Chugu-ji là một tu viện nằm về phía Đông của Horyu-ji, với các kiến trúc thế giới lâu đời bằng gỗ. Người ta cho rằng Chùa Chugu-ji do Thái tử Shotoku dựng lên cho mẹ của mình, Hoàng hậu Anahobe no Hashihito, để bà phát nguyện. 

Sảnh chính của Chugu-ji được xây dựng lại vào năm 1968 nhưng theo lịch sử đã được xây lần đầu vào đầu thế kỷ thứ 7 cùng một lúc với Horyu-ji. Điều thu hút ở đây chính là bức tượng bán thân Phật Quan Thế Âm Bồ Tát mỉm cười hiền từ – một kiệt tác đại diện cho văn hóa Phật giáo Hakuho.

Chùa Akishino-ji

Ngôi chùa được xây dựng vào thời Nara theo yêu cầu của Thiên Hoàng Konin. Do được xây dựng trên vùng đất Akishino nằm ở phía Tây Bắc kinh thành Heian nên ngôi chùa này có tên gọi là Akishino-ji. Ở Chánh điện chùa, có bài trí bức tượng Phật được điêu khắc duyên dáng từ thời Kamakura, còn được gọi là “Nàng thơ phương Đông”. Đây là một tài sản văn hóa quan trọng và rất quen thuộc với những người yêu nghệ thuật. Bức tượng này có phần đầu được điêu khắc bằng kỹ thuật thời Nara, từ cổ trở xuống thì điêu khắc theo kỹ thuật thời Kamakura, tuy thế toàn bộ bức tượng lại toát lên vẻ đẹp rất hài hòa.

Chùa Ono-ji

Đây là ngôi chùa do Dịch Tiểu Giác – vị tổ khai sáng của phái Tu nghiệm đạo Nhật Bản và đại sư Không Hải sáng lập và xây dựng. Ngôi chùa cổ này có hai cây anh đào 300 tuổi và 30 cây anh đào Shidare-zakura (Sakura cành rủ hay cây anh đào khóc). Nếu đi qua những tán hoa anh đào này, du khách có thể chiêm ngưỡng bức tượng Di Lặc được chạm khắc trên cầu tàu ở bờ đối diện của sông Uda.

Chùa Kinpusen-ji

Đây cũng là ngôi chùa do Dịch Tiểu Giác – vị tổ khai sáng của phái Tu nghiệm đạo Nhật Bản sáng lập. Dịch Tiểu Giác đã tạc hình ảnh vị “Tàng Vương quyền hiện” – vị Phật đặc trưng của Nhật Bản không có nguồn gốc từ Ấn Độ – lên cây hoa anh đào hoang (Yamazakura) ở trong ngôi chùa. Từ đó, cây anh đào núi trong ngôi chùa được tôn sùng như một loài cây linh thiêng trong một thời gian dài. Đây còn là danh lam thắng cảnh được nhiều nghệ sĩ văn học như: nhà thơ Saigyō Hōshi, Matsuo Basho, và Motoori Norinaga ghé thăm.

Đền Hasedera

Hasedera được xem là ngôi đền đứng đầu của trường Toyoyama thuộc giáo phái Shingon và là ngôi đền thứ tám của Hành hương Saigoku Kannon. Không chỉ có thế, Đền Hasedera còn được biết đến là “ngôi đền hoa” nơi mà du khách có thể tận hưởng trọn vẹn không khí của bốn mùa trong năm. 

Đền Hasedera với tên đầy đủ là “Kaikousanjijyoin”, được xây dựng từ năm 736. Nơi đây nổi tiếng với tượng Quan Âm Bồ Tát Kannon 11 mặt cao 9.18m và được coi là tượng chạm khắc bằng gỗ lớn nhất Nhật Bản. Nhưng khi vào mùa xuân thì Hasedera được gọi là “Đền hoa” với khoảng 1.000 cây anh đào Yoshino và hoa anh đào hoang dã nở rộ trong khuôn viên rộng lớn, du khách đến đây có thể ngắm hoa anh đào vào khoảng thời gian lý tưởng là từ đầu tháng 4 đến cuối tháng 4.

Về tổng thể,  Đền Hasedera là một không gian thanh tịnh yên bình tạo một cảm giác thoải mái, thanh thản từ âm thanh của tiếng nước chảy và màu xanh của cây cối xung quanh đem đến. Bên trong có rất nhiều nơi để du khách tham quan như: điện chính, điện Amida, sảnh Jizoudo, sảnh Bentendo, miếu thờ Inari, con đường đi dạo bộ hai bên có quang cảnh đẹp, bảo tàng Kannon, chòi quan sát. Ở điện chính, nơi có bức tượng Phật to và uy nghiêm. Ngoài ra, Tượng thần Nio được tôn trí ở hai bên cổng tháp, và tượng thần Shaka Sanson 16 Rakan được tôn trí ngay trên tháp rất đáng để du khách dành thời gian nhìn ngắm.

Đền Kasuga Taisha 

Ngôi đền này nằm bên trong Công viên Nara bao quanh bởi khung cảnh cánh rừng nguyên sinh của núi Kasuga. Nơi đây đã được công nhận làm khu di sản văn hóa thế giới và là mộ trong những “Di tích lịch sử của thành phố Nara”. Ngôi đền được xây dựng trong thời kỳ Nara với mục đích bảo trợ cho Cung điện Heijo-kyo và là nơi cư dân đến để cầu mong sự sung túc, ấm no. Truyền thuyết kể rằng vị thần bảo hộ đã cưỡi một con hươu đến nơi đây nên hươu nai trở thành một con vật linh thiêng được sùng bái ở Nara. 

Đền Kagusa Taisha được xây dựng vào năm 768 bởi lãnh chúa của tộc Fujiwara hùng mạnh. Ngôi đền này thờ phụng 4 vị thần khác nhau gồm: Takemikazuchi-no-Mikoto (Thần Sấm và Kiếm) từ Đền Kashima của tỉnh Ibaraki; Futsunushi-no-Mikoto (Thần Chiến binh) từ Đền Katori của tỉnh Chiba; Nam thần Amenokoyane-no-Mikoto (tổ tiên của tộc Fujiwara); Nữ thần Himegami từ Đền Hiraoka của tỉnh Osaka.

Kasuga Taisha nổi tiếng là ví dụ điển hình nhất cho phong cách kiến trúc Kasuga-zukuri, xuất hiện từ đầu thế kỷ VIII và phối trộn mái nhà theo phong cách Trung Quốc được trang trí màu đỏ, vàng và màu đỏ son. Một mái dốc nhẹ nhàng kéo dài ở mặt trước của tòa nhà cũng là cấu trúc của phong cách này.

Sự hài hòa giữa thiên nhiên và kiến trúc là một trong những nét nổi bật nhất của Đền Kagusa Taisha. Cụ thể, các cột sơn mài, những bức tường trắng và mái gỗ bách Hinoki nổi bật giữa màu xanh của khu rừng xung quanh đã tạo nên bối cảnh ăn ảnh, thu hút nhiều nhiếp ảnh gia đến đây tác nghiệp. 

Bao quanh gần như tất cả 4 phía của Đền Kasuga Taisha là các tu viện đã được chỉ định là những Tài sản văn hóa quan trọng. Tu viện phía Nam dài 42m, bắt đầu từ trung tâm cổng phía Nam Nanmon; tu viện phía Đông dài 37m với cổng Yogo ở giữa; tu viện phía Tây dài 57m và có 3 cổng: Keiga, Seijo và Naishi; tu viện phía Bắc dài 27m và kết nối với tu viện phía Tây.

Một địa điểm nổi tiếng khác trong khuôn viên Đền Kasuga Taisha là Vườn thực vật “Shinen Man’yo” với khoảng 300 loại thực vật. Đặc biệt, những bông hoa tử đằng nở từ cuối tháng 4 đến đầu tháng 5 là nét quyến rũ khó cưỡng đối với du khách.

Khuôn viên của ngôi đền cũng là nơi có Bảo tàng Kasuga Taisha. Nơi đây hiện đang chứa và trưng bày 354 Kho báu quốc gia thuộc sở hữu của Kasuga Taisha và 1.482 Tài sản văn hóa quan trọng. Đặc biệt, du khách sẽ được chiêm ngưỡng 2 chiếc trống lớn nhất ở Nhật Bản (cao 6,5m) và chiếc gương phản chiếu hình ảnh Kannabi độc đáo.

Một kỳ nghỉ tuyệt vời tại tỉnh Nara vừa được ăn ngon, tham quan nhiều địa điểm thú vị cũng như thăm viếng những đền chùa quả là tuyệt vời hơn phải không? Bởi vậy hãy nhanh chóng liên hệ với chúng tôi để đặt một Tour Nhật Bản và khám phá các hết địa điểm ở trên đây nhé! Chúc các du khách có những chuyến đi như ý và nhiều niềm vui!