Waka – thể thơ mang đến những nét chấm phá đặc sắc trong nền văn học Nhật Bản

Văn học là một hình thức tái hiện lại những vấn đề, hiện tượng trong đời sống xã hội của con người. Dựa theo những phương thức sáng tác sáng tạo khác nhau thông qua những ngôn ngữ ở từng đề tài sáng tác mà văn học có rất nhiều hình thức khác nhau. Tùy theo từng quốc gia mà có các thể loại văn học nổi tiếng riêng và thơ Waka là một hình thức văn học vô cùng nổi tiếng của Nhật Bản. Waka đã mang đến những nét chấm phá đặc sắc và cũng là cội nguồn của một số dòng thơ khác tại “xứ Phù Tang”.

Thơ ca xuất hiện sớm và có lịch sử phát triển lâu dài trong tiến trình văn học Nhật Bản. Trong xã hội quý tộc thời cổ, các hội thơ (“Uta Awase – 歌合”) thường được tổ chức vào những dịp đặc biệt trong năm. Ở những hội thơ này, các thi nhân xướng đọc những câu thơ do mình sáng tác và thưởng thức, bình luận những bài thơ mình đã được nghe. Bên cạnh đó, khi muốn trao gửi cho nhau những thông điệp giàu mỹ cảm, giới quý tộc thường viết thư cho nhau bằng hình thức “Waka”.

Tên gọi, hình thức và ngôn ngữ của thơ Waka

Waka có nghĩa là “đoản ca”, “hòa ca”, là một thể thơ cổ điển của Nhật Bản. So với Kanshi (Hán thi) – một thể thơ cổ điển của Trung Quốc thì Waka của Nhật Bản với chữ “wa” (“Hòa”, nghĩa là “Nhật Bản cổ”) trong tên gọi.

Thể thơ Waka với 31 âm tiết, được chia thành 5 dòng với số lượng âm tiết tại một dòng lần lượt sẽ là 5 – 7 – 5 – 7 – 7. Chỉ với 31 âm tiết và không quá 12 từ, nhưng những bài thơ Waka đều diễn đạt được trọn vẹn ý tình và đây cũng là thể thơ ngắn thứ hai sau Haiku trong các dòng thơ Nhật Bản.

Ngoài ra, thể thơ Waka còn chú trọng các kỹ thuật như: 

  • Chữ gối đầu (枕詞 – Makura-kotoba)

Đây là một quy tắc độc đáo của Waka, sử dụng một từ để tô điểm cho một từ khác. Ví dụ: Nếu sử dụng từ “sương buổi sáng” (朝霜 – Asashi-mono) và đặt từ “tan đi” (消 – ke) ở đâu đó ở phần tiếp theo của bài thơ thì đó chính là sử dụng chữ gối đầu. Có một số lượng vô cùng lớn các ước lệ như thế khiến cho cả dân chuyên nghiệp cũng khó mà nhớ hết mà phải sử dụng đến từ điển các chữ gối đầu.

  • Chữ bắt quàng (掛詞 – Kake-kotoba)

Đây là kỹ thuật chơi chữ với từ có hai nghĩa. Ví dụ, có một Waka cổ như sau: “Otoninomi kikunoshiratsuyu yoruwaokite hiruhaomohini abezujenubeshi” (Tạm dịch: Sương trắng lắng đọng / Trên bông hoa cúc / Những đêm thức giấc / Bồn chồn bởi những tin đồn cằn cỗi / Tan biến trong ánh mặt trời buổi sáng)

Muốn gặp người yêu mà không thể gặp được. Đây là một khúc ca về tình yêu. Ở đây có các chữ bắt quàng đồng nghĩa là “kiku” (菊/聞く= hoa cúc/lắng nghe), “okite” (置きて/起きて= để lại/thức dậy”; 置き= oki là từ cổ của 置いて= oite), “omohi” (từ cổ của “omoi” = 思もい = suy nghĩ, đồng âm với “hi” = 日 = mặt trời).

Bài Waka này chứa đựng tâm tình: “Dù cho những giọt sương trên hoa cúc còn sót lại vào ban đêm thì chúng cũng sẽ bay hơi vào ban ngày vì ánh sáng mặt trời. Giống như thế, tôi chỉ có thể nghĩ về anh/em qua những âm thanh (tin đồn). Vào ban đêm tôi không thể ngủ và thức suốt. Và khi mặt trời mọc, những tâm tư của tôi cũng bốc hơi theo ánh mặt trời”.

Waka được rất nhiều người Nhật ưa thích và sáng tác bởi vì chúng không yêu cầu phải có quý ngữ (Kigo) và có thể được gieo vần tự do. Bên cạnh đó, ngôn ngữ thơ Tanka là loại ngôn ngữ quý tộc nên được trau chuốt một cách tinh tế, mượt mà, dễ lay động lòng người.

Sự ra đời và phát triển của thể thơ Waka

Waka vốn có nguồn gốc là một thể thơ truyền thống ra đời sớm nhất ở Nhật Bản, được ghi chép vào thời Nara. Khởi nguyên của thể thơ này đó là “Cổ ký sự” – bộ sử rất quan trọng của người Nhật ghi lại một huyền thoại kể rằng thần bão tố Susano chính là người đã sáng tạo ra bài thơ đầu tiên gồm 31 âm tiết.

Có 2 nguồn gốc hình thành nên thể thơ Waka đó là: ca dao cổ đại và Hán thi, nhưng xa xưa nhất vẫn là ca dao cổ đại. Thơ Waka từng được viết bằng một hệ thống chữ cổ có tên là “Manyogana”. Hệ thống này sử dụng các ký tự tiếng Hán để diễn đạt tiếng Nhật. Theo đó, cùng với sự ra đời của việc sử dụng hệ thống chữ Manyogana thì Waka cũng được ra đời vào đúng thời đại Nara. Ngày nay, thể thơ Waka còn được nhắc đến với cái tên “Tanka” và vẫn được áp dụng vào các giáo trình dạy học tại Nhật Bản.

Đề tài của dòng thơ Waka

Như đã nói ở trên, một trong 2 nguồn cội của thơ Waka là ca dao cổ đại. Theo đó, ca dao thời cổ được xuất phát từ các bài hát trong những lễ tế để cảm tạ thần linh, được trình bày theo một lề lối nhất định và lặp đi lặp lại trong một thời gian dài, kèm với những bài múa và dụng cụ âm nhạc đơn sơ với tác dụng nâng cao năng suất lao động của người Nhật cổ. Khi cộng đồng người Nhật cổ đại đã trưởng thành hơn, rút ra được nhiều kinh nghiệm trong các buổi tế lễ thì nội dung của những bài ca cũng phong phú và trau chuốt hơn về mặt hình thức và vào mỗi mùa lại có một hình thức tụ họp riêng và những bài ca bắt đầu mang trên mình những thông điệp riêng về quê hương, con người.

Đặc biệt, nội dung lớn nhất, đặc trưng quan trọng nhất của Waka là tiếng nói tình yêu nam nữ. Waka được coi là thể thơ tình của người Nhật. Có thể ví những vần thơ Waka như hình ảnh các nàng Geisha thấp thoáng dưới bóng hoa anh đào: đẹp diễm tình và buồn man mác.

Bước vào thế giới “tao nhã và dịu dàng” ấy, người đọc sẽ được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của thiên nhiên và tình yêu trong tâm hồn con người Nhật, đặc biệt là người phụ nữ.

Khi nhắc đến thể thơ Waka, người ta thường nhớ đến bóng dáng vĩ đại của nhà thơ Kakinomoto Hitomaro, dù viết về đề tài nào đi nữa thì thơ của ông vẫn đầy sức mạnh trữ tình.

Một bài thơ của Kakinomoto Hitomaro:

“Trên đồng mùa hạ

Lang thang con nai

Sừng còn nhỏ quá

Cho dù một khắc

Tôi chẳng quên ai”

(Bài số 502)

Cái linh thiêng của đời sống nằm trong cặp sừng còn quá nhỏ của con nai tơ bởi vì nó còn phát triển, chắc chắn sẽ lớn lên thành một cặp sừng dũng mãnh, như cỏ cây trên cánh đồng mùa hạ, như tình yêu tôi dành cho em.

Waka diễn tả mọi cung bậc của tình yêu – yếu tố bản thể, thuộc tính thiêng liêng nhất của con người. Từ những cảm xúc nhẹ nhàng, man mác của tình cảm chớm nở chảy tràn trong tim, đến mãnh liệt, tha thiết như sóng triều dâng, Tanka diễn tả nỗi khắc khoải trong tình yêu khi phải chia xa.

“Người không yêu tôi

Tôi vẫn yêu người

Như kẻ vào chùa

Cầu xin quỷ đói

Cho đến tàn hơi!”

(Bài số 608)

Bên cạnh Kakinomoto Hitomaro, còn phải nhắc đến nhiều bậc tiểu thư, quý tộc khác làm nên thành công của dòng thơ Waka như: công chúa Nukada, Tiểu thư Kasa và Tiểu thư Sakanoe.

Komachi – một trong 6 ca tiên, người con gái nổi tiếng tài sắc đến nỗi cuộc đời nàng đã trở thành huyền thoại. Komachi còn là chủ nhân của những bài Tanka diễm tình nhất. Tình yêu của nàng luôn cháy bỏng đam mê. Đó là một tâm hồn đa cảm, khao khát tình yêu, khao khát tri âm, tri kỷ:

“Từ khi tôi nhìn thấy

Người tôi mong chờ

Trong một giấc mơ

Thì niềm tin từ đấy

Tôi đặt vào trong mơ”

Ngoài đề tài tình yêu thì thiên nhiên cũng là một khía cạnh được đề cập đến trong Waka. Khác với thiên nhiên trong thơ Haiku thường được nhìn dưới góc độ khách quan, thì thiên nhiên trong thơ Waka đã được khúc xạ qua lăng kính chủ quan của con người. Thiên nhiên là đối tượng để con người ký thác, giãi bày tâm sự. Vì vậy, thiên nhiên trong Waka là những bức tranh đẹp diễm tình với vẻ đượm buồn của cảnh, gửi gắm tâm sự của thi nhân về tình yêu và nỗi sầu nhân thế.

Một trong số tác giả viết về thiên nhiên có Pháp sư Egyo:

“Trong cỏ dại

Mái lều nằm sâu

Giữa niềm cô tịch

Dù không khách viếng

Mùa thu ghé vào”

Bài thơ như một cơn gió dịu nhẹ thoảng qua nhưng chứa đầy thi vị. Hình ảnh “mùa thu ghé vào”, “mái lều nằm sâu trong niềm cô tịch” “trong cỏ dại” kia dường như đã thâu tóm được khoảnh khắc linh diệu của đất trời khi có sự hiện diện của mùa thu. Thu đang về trong một mái lều nơi “không khách viếng”, lặng lẽ nhưng ẩn chứa bao sự bí ẩn, diệu kì,…

Đặc trưng nổi bật nhất, cũng là linh hồn của mỗi bài thơ Waka chính là chất “Yoji” (dư tình) tức là những dư ba của xúc cảm bâng khuâng, xao xuyến, dịu dàng, lắng đọng lại sau mỗi bài thơ. Nó được tạo ra từ những cảm thức thẩm mĩ truyền thống của người Nhật như: Aware, Yugen, Sabi, Wabi,… Quan trọng nhất là cảm thức Aware.

Bài thơ, tập thơ Waka đặc sắc

Với sự ra đời và phát triển lâu đời của mình, dòng thơ Waka đã để lại rất nhiều tác phẩm nổi bật, đặc biệt có thể kể tới như:

  • Vạn diệp tập (万葉集 – Man’youshuu) – với nghĩa khái quát có thể được hiểu là “tập thơ lưu truyền vạn đời”, “tuyển tập hàng vạn bài thơ”, “tập thơ vạn trang”, “tập thơ vạn lời”, “tập thơ của mười ngàn chiếc lá” là tuyển tập thơ của Nhật Bản lớn nhất và cổ xưa nhất còn lại đến ngày nay. Tập thơ có lẽ được Otomo Yakamochi (mất năm 785) và một số người khác biên soạn vào cuối năm 759 đời Thiên hoàng Junnin thời kỳ Nara, theo lệnh của Thiên hoàng đương triều.

Vạn diệp tập

“Yamato núi bủa giăng,
Dưới trời hỏi núi nào bằng Kagu.
Leo lên đỉnh nhìn tuyệt mù,
Khói lan đồng rộng, chim vù đảo xa.
Đẹp sao là đất nước ta!”

(Bài Yamato ni wa, quyển 1, thơ thiên hoàng Jomei)

“Bên ao Iwashiro,
Nhánh tùng ai buộc, có chờ nhau chăng?
Ngày ta trở lại đây thăm.”

(Iwashiro no, Man.yôshuu, quyển 2, bài 54)

“Mai đây cho đến cuối đời,
Futa phía núi mỗi ngày lặng trông.
Nhớ em, chị xót trong lòng.”

(Bài Utsusomino, Man.yôshuu, quyển 2, thơ Ôku no Hime miko)

  • Cổ kim hòa ca tập (古今和歌集 – Kokinwakashuu) đôi khi được viết tắt là “Kokinshū” (古今集), là tập thơ Waka cổ viết vào thời đại Heian.

Cổ Kim hòa ca tập

“Khi trời nổi gió, lá hồng,
Rơi theo làn gió xuống dòng nước xanh,
Đã in sẵn lá trên cành”

(Bài Kaze fukeba, phần Thu (thượng) 304, thơ Ôshikôchi Mitsune)

“Xin dòng lệ đổ thay mưa,
Sông Tam Đồ lụt, nước đưa em về.
Cõi trần gian ở bên ta.”

(Bài Imoto no mi, phần Ai Thương bài 829, thơ Ono no Takamura Ason)

“Lập xuân nhằm tháng mười hai,
Năm cũ? năm mới ? biết ai hỏi cùng!”

(Bài Toshi no uchi ni, phần Xuân (thượng), quyển 1, thơ Ariwara no Motokata, cháu nội Narihira )

Trò chơi cùng thơ Waka

Một trò chơi phổ biến có thể sử dụng Waka tại Nhật Bản tên là “Hyakunin Isshu” (Bách nhân nhất thủ). Đây là trò chơi thích hợp trong việc làm quà lưu niệm từ Nhật Bản vì nó rất hữu ích trong việc học tiếng Nhật, cũng như các hình vẽ khá đẹp mắt.

Trải qua 13 thế kỷ, đến nay, Waka vẫn sống trong tâm thức của người Nhật như một biểu tượng của niềm hoài vọng cổ xưa, của tính nữ vĩnh cửu trong văn hóa, văn học. Cùng với Haiku, Waka là bộ phận quan trọng trong nền thơ Nhật Bản nói riêng và thi ca nhân loại nói chung. Waka như những cánh hoa anh đào kiêu sa nở giữa cuộc đời, chắc chắn sẽ làm say lòng bất cứ ai đến với nó. Nếu yêu mến văn học Nhật Bản, du khách đừng bỏ qua tìm hiểu thể thơ lớn này nhé! Đồng hành cùng chúng tôi trong hành trình du lịch Nhật Bản, du khách được khám phá nhiều điều thú vị hơn về nền văn hóa, văn học, nghệ thuật đặc sắc của “xứ Phù Tang”.