Cuộc đời của 3 vị Hoàng hậu danh tiếng lẫy lừng trong lịch sử Hàn Quốc

Đất nước Hàn Quốc có một bề dày lịch sử đáng nể phục. Trải qua các triều đại phong kiến, giờ đây Hàn Quốc là một đất nước độc lập và phát triển. Với những thành tựu đáng khâm phục, Hàn Quốc đã cho cả thế giới biết đến tên tuổi của mình. Và trong suốt chiều dài lịch sử ấy, không thể không nhắc đến sự đóng góp của những vị Hoàng hậu danh tiếng lẫy lừng. 

Hoàng hậu Ki, Hoàng hậu Jang Hee Bin, Hoàng hậu Myeongseong là 3 người phụ nữ nổi tiếng nhất trong lịch sử Hàn Quốc. Người thì xinh đẹp mưu lược, kẻ thì tham vọng tàn độc sánh ngang Võ Tắc Thiên. 

Hoàng hậu Ki

Hoàng hậu Ki (Hoàn Giả Đô, 1315-1369) là Hoàng hậu thứ ba và cũng là phi tần được sủng ái nhất dưới thời Nguyên Huệ Tông thuộc vương triều nhà Nguyên trong lịch sử Trung Hoa.

Sinh thời, Ki thị vốn xuất thân là một cống nữ được Cao Ly cống nạp sang nhà Nguyên dưới thời Trung Huệ Vương. Cuộc đời thật của bà cũng gặp phải nhiều thăng trầm và trắc trở không kém so với những tình tiết được phim ảnh tạo nên.

Tương truyền rằng khi mới nhập cung, Ki Hoàng hậu chỉ là một cung nữ dâng trà rót nước. Nhờ vào nhan sắc trời ban cùng tính cách thông minh, lanh lợi, bà đã lọt vào mắt xanh của Hoàng đế Nguyên Huệ Tông và trở thành vị phi tử ngoại quốc được nhà vua độc sủng lúc bấy giờ. Cũng nhờ vào sự sủng ái của nhà vua, vị phi tần ngoại quốc này đã vươn lên từ thân phận của một cung nữ thấp hèn trở thành Ngũ phẩm Tài nhân và sau đó thăng làm Tiệp dư, Quý phi. Thế nhưng ngay cả khi đã chiếm trọn trái tim của Thiên tử, cuộc sống của bà trong chốn hậu cung xô bồ vẫn chưa có nổi một ngày yên bình.

Sử cũ ghi lại, khi vừa trở thành một phi tử bình thường trong hậu cung, bà đã nhiều lần bị Hoàng hậu đương triều là Đáp Nạp Thất Lý bày kế hãm hại và tìm cách đánh đập. Trong những ngày tháng tủi nhục ấy, việc bà có thể giữ được mạng sống của mình trước những trò đầy đọa của đương kim Hoàng hậu vốn đã được xem là kỳ tích. Sau đó, gia tộc Đáp Nạp Thất Lý bị khép vào tội phản nghịch. Vua Huệ Tông liền phế bỏ và lưu đày Hoàng hậu thường xuyên hiếp đáp sủng phi của mình.

Ngay sau khi đối thủ nặng ký bị loại trừ, cuộc sống của Ki thị ở hậu cung đã thay đổi một cách ngoạn mục. Theo quy chế của Nguyên triều, các Hoàng đế có quyền lập nhiều vị Hoàng hậu cùng một lúc, nhưng người được trao quyền quản lý hậu cung lại chỉ có một. Sau khi Tiên Hoàng hậu qua đời, Ki thị cùng với cháu gái của Thừa tướng Bá Nhan đều đồng loạt được phong Hậu.

Theo “Nguyên sử”, chính cung Hoàng hậu Bá Nhan Hốt Đô được đánh giá là người “đức hạnh, sống không đố kỵ, thông hiểu lễ nghi nội cung”. Có nhiều ý kiến còn cho rằng bà có tính cách và bản chất trái ngược hoàn toàn so với Đệ nhị Hoàng hậu Ki thị.

Mặc dù Bá Nhan Hốt Đô Hoàng hậu mới được xem như chính thất, thế nhưng mọi quyền hành quản lý lục cung lại được Hoàng hậu đệ nhị là Ki thị nắm trong lòng bàn tay.

Chỉ riêng việc “vượt mặt” được cháu gái của Thừa tướng cũng đủ để thấy bản lĩnh của vị phi tần Cao Ly ấy vốn không thể coi thường.

Tới năm 1365, Bá Nhan Hốt Đô Hoàng hậu đột ngột qua đời ở tuổi 42. Tương truyền rằng khi vị Hoàng hậu này băng hà, Ki thị đã nhìn vào những bộ trang phúc cũ rách, đơn sơ của bà mà chế giễu rằng: “Đường đường là một Hoàng hậu, một chính thê của Hoàng đế, sao có thể mặc những bộ trang phục như vậy?”.

Cũng kể từ sau cái chết đột ngột của Bá Nhan Hoàng hậu, Ki thị đã chính thức được làm đại lễ sắc phong và trở thành vị Hoàng hậu chính thất duy nhất của triều Nguyên lúc bấy giờ. Không những vậy, bà còn hạ sinh cho Nguyên Huệ Tông một người con trai, người này cũng là con trưởng và đã trở thành Hoàng đế nối ngôi sau khi Tiên đế qua đời.

Từ một phi tần mang gốc gác ngoại bang, Hoàng hậu Ki đã loại bỏ mọi rào cản trên con đường bước lên ngai vị mẫu nghi thiên hạ. Và một trong những nguyên nhân khiến bà trở thành người phụ nữ quyền lực nhất Nguyên triều không thể không kể tới sự tâm cơ cùng tài năng cung đấu thuộc vào hàng thượng thừa.

Theo Bách khoa toàn thư Trung Quốc, Hoàng hậu Ki được đánh giá là con người thông minh, nhưng tính cách lại hết sức tâm cơ, nhiều mưu tính và đôi khi không từ thủ đoạn để diệt trừ đối thủ. Ngay cả khi đã đứng đầu hậu cung, bà vẫn không thỏa mãn với việc điều khiển lục cung mà còn có ý định thâu tóm chính trị trong triều.

Bấy giờ, Thừa tướng Nguyên triều là Bá Nhan từng nhiều lần ra mặt chống lại Hoàng hậu Ki. Sau này, bà đã tìm cách cấu kết một số triều thần nhằm khép Bá Nhan vào tội lộng quyền, hạ lệnh cách chức và âm thầm cho người trừ khử ông. Cũng theo ghi chép của một vài tư liệu lịch sử, Hoàng hậu Ki từng có mưu đồ ép phu quân Huệ Tông thoái vị để con trai lên làm Hoàng đế, còn mình thì ở ngôi Hoàng Thái hậu. Để thực hiện âm mưu này, bà đã cố tình tìm đến Tả Thừa tướng Thái Bình nhằm kết liên minh. Tuy nhiên, vị Thừa tướng ấy chẳng những không nhận lời mà còn mắng bà là kẻ có âm mưu đại nghịch. Không lâu sau đó, Thừa tướng Thái Bình cũng có kết cục bi thảm không kém so với Bá Nhan. Bản thân ông bị cách chức, lưu đày, còn gia tộc thì sau đó đều bị giết hại.

Bên cạnh những nước cờ chính trị thâm sâu kể trên, vị Hoàng hậu đến từ xứ Cao Ly này còn rất biết cách thu phục lòng người. Năm xưa khi quê hương mẫu quốc của bà gặp đại hạn, chính Ki thị đã hạ lệnh cho triều đình nhà Nguyên mở kho cứu tế, từ đó lấy được lòng dân và được bách tính rất mực yêu kính.

Tại mẫu quốc Cao Ly, cha của Hoàng hậu Ki biết con gái đang nắm trong tay đại quyền nên càng lúc càng kiêu ngạo, thậm chí còn ra mặt chống đối quốc vương, cả gan khẳng định mình sẽ thay thế vương vị. Việc này khiến quốc vương của Cao Ly không dễ dàng bỏ qua. Gia tộc của Hoàng hậu Ki tại quê nhà cũng vì vậy mà đều bị xử tử. Phẫn nộ trước việc quốc vương tàn sát người nhà mình, Hoàng hậu Ki đã để con trai đem quân xuất binh đi tấn công Cao Ly. Không ngờ rằng đại quân Nguyên triều lại trở về trong thất bại nặng nề.

Sự thực là dù tâm cơ và toan tính tới đâu, Hoàng hậu Ki vẫn không thể cứu vớt thế cục của một vương triều đang trượt dài trên đà suy vong. Bởi thực tế là tới thời Nguyên Huệ Tông tại vị, thiên hạ đã đại loạn, khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi.

Năm 1368, trước tình thế quân Chu Nguyên Chương đã nắm giữ đại cục, Ki Hoàng hậu cùng con trai phải chạy trốn khỏi Đại Đô. Sự kiện này cũng chính thức đặt dấu chấm hết cho thời kỳ người Mông Cổ nắm quyền thống trị trên toàn bộ lãnh thổ Trung Hoa.

Sau khi con trai lên ngôi Hoàng đế, lập ra nhà Bắc Nguyên đối kháng kéo dài với nhà Minh, Hoàng hậu Ki đã được phong làm Hoàng Thái hậu đúng như mong muốn của bà lúc sinh thời.

Tiếc rằng chỉ chưa đầy 1 năm sau khi được nhận ngôi vị này, bà đã qua đời ở tuổi 55. Có giai thoại khác truyền lại rằng bà đã mất tích không lâu sau khi trở thành Hoàng Thái hậu.

Tuy nhiên dù kết cục của Hoàng hậu Ki cuối cùng ra sao, thì cuộc đời đầy sóng gió và thăng trầm của vị phi tần đến từ Cao Ly ấy cũng đã chính thức khép lại vào năm 1369. Thế nhưng những dấu ấn mà bà khắc ghi vào trong lịch sử vẫn sẽ trở thành những giai thoại khiến hậu thế không thể nào quên.

Hoàng hậu Jang Hee Bin

Nếu như nước Anh có Hoàng hậu Anne Boleyn thường được biết đến là con người lăng loàn, độc ác, nham hiểm thì ở “xứ Kim Chi” cũng có một vị phi tần mang tiếng xấu như vậy, người đó là Jang Hee Bin (Hy tần Trương Thị). Bà thường bị khắc họa là một kẻ “kẻ bướng bỉnh, dâm dục, suy đồi, hèn hạ” và là kẻ đã quyến rũ Vua Sukjong (Túc Tông), khiến nhà vua phế bỏ Vương phi Inhyeon (Nhân Hiển Vương hậu) và đưa bà lên làm Vương phi. Bà thậm chí còn bị cáo buộc là đã dùng bùa chú để hãm hại Vương phi Nhân Hiển, khiến cho bà qua đời khi còn trẻ. Chính vì những lý do này, phần lớn người Hàn thường đánh giá bà với thái độ rất tiêu cực.

Jang Hee Bin (khuê danh là Jang Ok Jung) có xuất thân từ một gia đình danh giá và có quan hệ với phe miền nam của triều đình Joseon. Cha bà là một thông dịch viên giàu có nhờ việc giao dịch với các đại sứ ở Trung Quốc. Về sau, gia đình bà dần lụi bại và Trương thị phải nhập cung từ khi còn nhỏ làm Nội nhân.

Trong thời gian Trương Thị phục vụ cho gia đình hoàng gia, vua Túc Tông vẫn không có người thừa kế. Ông đã lấy Vương hậu Nhân Hiển được 3 năm nhưng cả hai vẫn chưa có con. Nhà vua trong lúc chán nản để tìm người thừa kế đã bắt gặp nhan sắc xinh đẹp của Trương thị và hai người nhanh chóng yêu nhau. Sau đó, bà trở thành phi tần của Vua Túc Tông.

Tuy nhiên, các cận thần không hài lòng về sự sủng ái của Vua Túc Tông dành cho Trương thị vì họ cho rằng bà là yêu cơ, tà hiểm tâm độc, sẽ gây tổn hại đến triều đình và sau đó, bà đã bị đuổi khỏi cung điện. Tuy nhiên, Hoàng hậu Nhân Hiển, người nổi tiếng là “vị tha và đầy đức hạnh” đã xin cho bà được về cung. Năm 1668, Trương Thị sinh một cậu con trai tên là Vương tử Lý Quân, người sau này trở thành Vua Cảnh Tông và được phong lên bậc Chiêu Nghi.

Trong khi Trương Thị đã sinh ra cho vua một người thừa kế thì Nữ hoàng Nhân Hiển vẫn chưa có con. Đây chính là khởi điểm dẫn tới các mâu thuẫn trong triều đình. Do nhà vua ngày càng sủng ái Trương thị, ông đã phong vị Tần cho Trương thị, khiến bà trở thành người quyền lực thứ hai sau Hoàng Hậu. Ông cũng quyết định đưa Lý Quân lên Vương thế tử. Điều này đã khiến nhiều đại thần của phái Tây Nhân phản đối, mà đứng đầu là Ly Dương Phủ viện quân Mẫn Duy Trọng, cha của Nhân Hiển vương hậu Mẫn thị vì cho rằng Trương có xuất thân hèn kém, không xứng đáng làm mẹ của một vương tử.

Điều này đã khiến cho Túc Tông vô cùng tức giận, nên ông đã ra lệnh cho xử tử và lưu đày hết những người liên quan, đồng thời phế Hoàng hậu Nhân Hiển và hạ bà xuống làm thường dân. Điều này đã mở đường cho Trương Hy tần trở thành Vương phi và phe phái của bà, những người thuộc phe Nam Nhân thống trị và lũng đoạn triều đình sau đó.

Năm 1690, Trương Hy tần được sắc phong làm Vương phi, biến bà trở thành bậc mẫu nghi thiên hạ. Từ sau khi Trương Tần nắm được vị trí Trung điện, phái Nam Nhân lũng đoạn triều chính, củng cố quyền lực và tìm cách loại bỏ phái Tây Nhân. Túc Tông thì lại muốn giữ nguyên thế lực Tây Nhân để có sự cân bằng hai phe đối lập. Trong triều xuất hiện mâu thuẫn giữa quyền lợi của nhà vua và phe phái chính trị ủng hộ cho Trung điện.

Bản thân Trung điện từ khi sắc phong cũng tỏ ra ngỗ ngược, độc đoán và ghen tuông mù quáng với các Hậu cung tần ngự khác, trong khi người nhà của bà tác oai tác quái, gây nhiều thị phi khiến dân chúng căm phẫn. Những việc làm đó khiến Túc Tông ngày càng xa lánh, lạnh nhạt với Trung điện. Lúc này, vua Túc Tông đã nảy sinh tình cảm với Thôi Thủy Tứ, một cung nữ của Phế phi Nhân Hiển. Trong một lần bắt gặp bà đang cầu nguyện cho Phế phi nhân ngày sinh nhật của bà, nhà vua đã vô cùng cảm động và sủng ái Thôi thị, sắc phong bà làm Thục viên. Chính sự tác động của Thôi Thục viên đã khiến nhà vua nảy sinh ý định phục vị cho Phế phi Nhân Hiển và vào năm 1964, Nhân Hiển Vương hậu được phục vị và Trương lại bị giáng chức làm Hy tần.

Sau đó, ông đã dẹp hết phe phái của Trương thị và cho phái Nam nhân đi đầy. Trương Hy tần do tức giận với quyết định này đã ra lệnh cho các cung nữ của mình phải bắn mũi tên vào chân dung của Nữ hoàng Nhân Hiển 3 lần một ngày. Còn có chuyện kể rằng Trương Hy tần đã làm phép nguyền rủa Vương hậu để hãm hại bà cũng như là giành lại tình cảm từ vua Túc Tông. Tuy nhiên, không có bằng chứng cho thấy những lời nguyền rủa của bà ảnh hưởng đến Nhân Hiển. Năm 1701, Nhân Hiển Vương Hậu ngã bệnh và qua đời năm 1701. Bà qua đời mà không có người thừa kế.

Sau khi bà mất, Vua Túc Tông đã biết được Trương tần đã sử dụng tà thuật để hãm hại Hoàng hậu của mình và ông đã cáo buộc bà giết chết Vương Hậu. Không chỉ có vậy, phái Tây nhân còn khẳng định Trương Hy tần và anh trai đã thông đồng với nhà Thanh khi tiết lộ nhiều tài liệu quân sự tối mật nhằm nhận được sự đồng thuận cho việc sắc phong Thế tử của Lý Quân. Trước sức ép từ phái Tây Nhân và kết quả điều tra, Túc Tông đã ban chết cho Trương Hy tần với tội danh phản quốc và mưu hại Quốc mẫu. Tuy nhiên, Trương không lặng lẽ nhận án tử này mà đấu tranh quyết liệt trước quyết định của Nhà vua. Cuối cùng, bà bị xử chết bằng thuốc độc.

Thân nhân và đồng lõa của Trương tần đã bị hành quyết hoặc bị đày. Các cận thần phản đối việc thi hành của Trương thị bị lưu đày. Con trai của bà là vua Cảnh Tông lên ngôi năm 1720. Tuy nhiên, ông bị bệnh kinh niên và chết mà không có con nối dõi. Người anh cùng cha khác mẹ của ông là vua Anh Tổ lên ngôi. Trương thị được chôn cất tại một nơi vắng vẻ ở Gwangju.

Trương Hy tần là một trong những nhân vật gây tranh cãi nhất lịch sử. Bà thường bị coi như là một con người độc ác, tàn nhẫn. Tuy nhiên, gần đây, một số ít nhà sử học Hàn Quốc đã nghiên cứu và lập luận rằng bà lập các điện thờ không phải để nguyền rủa Vương phi mà là để cầu an và chữa bệnh cho Thế tử, người bị cho là mắc bệnh vô sinh. Cùng thời gian này, Nhân Hiển Vương hậu Mẫn thị bệnh tình ngày càng nghiêm trọng và nhiều Vương tử, Cung tần trong cung bị nhiễm căn bệnh lạ mọc mụn nhọt, hoa mắt… Từ đó đã lan truyền ra những tin tức thất thiệt bất lợi cho bà như “Trương Hy Tần cùng pháp sư nhập Thần điện nguyền rủa, trù ếm sát hại các Vương tử và Vương phi”… đã được thêm vào để kết tội Trương Hy tần. Ngoài ra, những tội ác của bà như âm mưu ám sát Nhân Hiển Vương hậu bằng những hình nhân thế mạng và tế lễ Thần điện không được ghi lại cụ thể trong chính sử mà chỉ được lấy từ cuốn truyện Nhân Hiển Vương Hậu Truyện có tác giả là một cung nữ thân cận của Nhân Hiển Vương hậu thời đó viết lại và lưu truyền tới ngày nay. Do vậy, sự thực về những hành động của bà vẫn là một ẩn số. Tuy nhiên, có một điều chắc chắn rằng bà là một trong những nhân vật nổi tiếng nhất trong lịch sử Hàn Quốc.

Hoàng hậu Myeongseong

Hoàng hậu Myeongseong (1851-1895) của Vương triều Joseon là một trong những nhân vật được nhắc đến nhiều nhất trong lịch sử Hàn Quốc bởi có tham vọng chính trị lớn.

Bà tên thật là Min Ja Yeong, vốn sinh trưởng trong gia đình quý tộc Min, đây cũng là lý do khiến sau này nàng còn được gọi là Hoàng hậu Min. Mồ côi năm 8 tuổi nhưng sau này, may mắn về duyên phận đã sớm đến với nàng khi Hoàng đế Gojong tương lai của Triều Tiên lúc đó mới 15 tuổi đã muốn tìm một người vợ. Tiểu thư Min Ja Yeong là người có óc thẩm mỹ, vô cùng xinh đẹp và không có nhiều người thân – điều này tránh cho Hoàng đế tương lai được mối lo lộng quyền từ phía họ hàng nhà vợ.

Nàng trở thành Hoàng hậu năm 16 tuổi sau một đám cưới linh đình. Từ ngày đầu vào cung, Hoàng hậu Min đã tỏ ra là người thông minh, nhanh nhạy và vô cùng quyết đoán. Không như những phụ nữ an phận khác, nàng đặc biệt quan tâm đến chính trị, quan hệ quốc tế, kinh tế… Mặc dù Hoàng gia không khuyến khích nhưng nàng vẫn chuyên tâm nghiên cứu khoa học, triết học và tôn giáo.

Đến khi sinh hạ một hoàng tử, quyền uy của Hoàng hậu Min càng được nâng cao. Nàng cùng Hoàng đế hiện diện trước bá quan văn võ, cùng lắng nghe và quyết định những việc quan trọng của đất nước. Thậm chí, Hoàng hậu Min còn tỏ ra quan tâm đến tình hình chính trị nhiều hơn Hoàng đế.

Trước tình cảnh kinh tế của đất nước bị đình đốn, suy giảm do thương nhân trong nước không cạnh tranh nổi với thương nhân Nhật Bản, Hoàng hậu Min đã có ý muốn hiện đại hóa vương quốc Triều Tiên vốn đã quá lạc hậu. Năm 1881, sau chuyến thăm Nhật Bản, được sự đồng tình của Hoàng đế Gojong, bà đã tiến hành cải tổ đất nước bằng cách: Âm thầm đấu tranh ngoại giao với các cường quốc Nhật, Trung Quốc, Nga; đưa ra kế sách hiện đại hóa quân sự và nghiên cứu sâu rộng các mô hình kinh tế phương Tây.

Nhà vua cảm phục tài cầm quyền khôn ngoan của vợ nên tình cảm giữa họ ngày càng khăng khít, gắn bó. Một mặt, Hoàng hậu Min tích cực quan hệ với nhà Thanh nhằm giảm bớt ảnh hưởng của người Nhật tại vương quốc Triều Tiên; mặt khác, bà cũng đẩy mạnh quan hệ ngoại giao với Mỹ nhằm đưa ngành công nghiệp Triều Tiên vượt qua Nhật. Tuy nhiên, ngày 8/10/1895, Hoàng hậu Min bị ám sát ngay khi đang ở trong Cung điện Gyong Bok Kung.

Sau khi Hoàng hậu Min qua đời, tinh thần quật cường của bà trở thành nguồn cảm hứng bất tận, lay động đến nhiều thế hệ ở “xứ Kim Chi”.

Vậy là thông qua bài viết này, du khách đã có thêm sự hiểu biết về lịch sử “xứ Kim Chi”. Nếu du khách muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn về đất nước xinh đẹp này thì hãy Book Tour Hàn Quốc của chúng tôi nhé! Chúc du khách có một chuyến đi vui vẻ!