Khám phá vài nét đặc trưng về văn hóa, nghệ thuật, lịch sử của thổ dân ở Úc

Nước Úc có một lịch sử văn hóa bản địa phong phú có niên đại hàng chục nghìn năm và phát triển qua hàng trăm thế hệ. Các cộng đồng thổ dân và cư dân trên eo biển Torres được coi là người bản địa đầu tiên của Úc. Họ giữ mối liên hệ chặt chẽ về văn hóa, ngôn ngữ với vùng đất truyền thống của mình.

Lịch sử của thổ dân và cư dân trên eo biển Torres

Người bản địa Úc còn được gọi là dân tộc đầu tiên ở Úc chính là thổ dân và người dân đảo Torres Strait. Những nghiên cứu, bằng chứng khảo cổ học đã xác định, thổ dân và người dân đảo Torres Strait chính là chủ sở hữu truyền thống của vùng đất có nền văn minh liên tục lâu đời nhất trên trái đất, kéo dài hơn 65.000 năm. Họ là một trong những loài người đầu tiên di cư ra khỏi Châu Phi, băng qua các đường bờ biển của Ấn Độ và Châu Á cho đến khi đến bờ biển Úc thì dừng lại.

Quần đảo eo biển Torres là một nhóm gồm khoảng 274 hòn đảo nhỏ phân bố trên diện tích 48.000km2. Thổ dân và cư dân sống trên eo biển Torres không phải là một nhóm đồng nhất mà họ là một nhóm đa dạng gồm hàng trăm quốc gia khác nhau (hoặc nhóm văn hóa) và thị tộc trong các quốc gia đó. Người ta ước tính rằng khoảng 250 ngôn ngữ và 600 phương ngữ ở hơn 500 quốc gia khác nhau đã được sử dụng vào thời điểm xâm lược thuộc địa năm 1788. Các nhóm cư dân ở các quốc gia khác nhau cùng sống trên eo biển Torres nhưng có nền văn hóa, tín ngưỡng, ngôn ngữ khác nhau.

Hiện nay, thổ dân và cư dân trên eo biển Torres chiếm khoảng 3,3% tổng dân số Úc, tương đương khoảng 800.000 trong số 25 triệu dân Úc. Trong khi hơn một phần ba dân số nước Úc sống ở các thành phố lớn thì những các cộng đồng người bản địa Úc sống trên quần đảo eo biển Torres thuộc vùng sâu, vùng xa phải đối mặt với nhiều sự bất lợi, thiệt thòi trong cuộc sống.

Phương thức sản xuất

Phương thức sản xuất của thổ dân Úc có sự khác biệt theo vị trí địa lý:

Thổ dân Kuku-Yalanji sống ở bờ biển Đông Nam bán đảo Cape York, bắc Queensland. Họ dùng những công cụ như­ que đào, những con thuyền, những đồ xách bằng gỗ hay bằng dây, những đồ để cắt, chặt đá… để sinh sống.

Thổ dân Barikindji và Wiradjuri sống trong l­ưu vực sông Murray – Darling. Họ sống phụ thuộc vào những con sông, phương thức sản xuất chủ yếu là đánh bắt cá, sò hến và các loài thuỷ sản. Họ đánh bắt bằng những cái giáo bốn l­ưỡi, bằng lư­ới và ở một vài nơi họ dùng bẫy bắt cá.

Còn người Warlpuri sống ở vùng khô cằn trung tâm Úc lại sinh sống dựa vào săn bắt và hái lượm. Nguồn l­ương thực chủ yếu của họ là các loài có vú nhỏ, thằn lằn, cá, các loại hạt và thảo mộc. Họ săn bắt thú vật bằng giáo, phóng lao, ném gậy, đặt bẫy và dùng lửa. Phụ nữ hái lư­ợm một loại cây nh­ư khoai lang, cà chua dại, chuối sa mạc, đó là những thức ăn chủ yếu của thổ dân ở sa mạc.

Thổ dân biết cách dùng lửa để đốt sạch các loại cỏ, cây bụi và cây to đã quá già cỗi. Họ còn bóc vỏ cây để làm thuyền, làm nơi trú ẩn; họ dùng dùi gỗ, búa bằng đá để đào đá lửa, đất son… (như­ ở vùng Wilgie bang Western Australia) rồi chạm khắc, vẽ trên đá những truyền thuyết, tín ngư­ỡng, tôn giáo hay các sự việc diễn ra trong đời sống hàng ngày của họ; họ còn biết cách điều chỉnh dòng n­ước để bẫy cá.

Săn bắn d­ường nh­ư là trách nhiệm, là bổn phận của những ngư­ời đàn ông. Đối với các loài thú lớn nh­ư đà điểu, kanguru, khi đi săn, họ phải dùng dây thòng lọng, giáo mác, boomerang hay chuỳ. Ngoài ra, họ còn bẫy vịt bằng cách lùa chúng vào những cái lư­ới giăng ngang dòng sông.

Ở nhiều bộ lạc thổ dân, kỹ năng đánh bắt cá hầu như­ đã đạt đến trình độ hoàn hảo. Cư­ dân miền Arnhem Land đi đâm cá bằng thuyền giống nh­ư cách đánh bắt của ngư­ời Marcassan, sống trên những hòn đảo gần Indonesia.

Các bộ lạc miền Đông Nam Úc còn tạo ra một hệ thống đập, kênh, rạch chằng chịt, rất phức tạp để bẫy l­ươn. Ngư­ời Gundijimara thì dựng lên những cái đập bằng gỗ ở hai con sông Hopkin và Moyne thuộc bang Victoria rồi sống luôn trong những ngôi nhà bằng đá hay có vách đất ở gần đó. Còn ng­ười Jaadwa cùng Toolondo (cũng ở bang Victoria) thì lại đào kênh để nối liền các con sông ở ven biển với các con sông nằm sâu trong đất liền rồi dồn l­ươn vào những con kênh đó.

Hái l­ượm: phụ nữ và trẻ em là những ngư­ời có nhiệm vụ tìm kiếm và hái lư­ợm thức ăn. Họ biết cách phân biệt các loại rễ cây và côn trùng có thể ăn đ­ược. Ngoài việc hái lư­ợm, ở nhiều nơi, họ còn gieo trồng và thu hoạch các loại thân củ. Phụ nữ cũng thư­ờng chế bẫy để bẫy chuột, thằn lằn và những con thú nhỏ khác hoặc đi nhặt trứng của những loài chim sống ở d­ưới n­ước. Ngoài ra, họ còn có nhiệm vụ đi lấy nư­ớc, lấy củi, chuẩn bị các bữa ăn, may vá quần áo, chế tạo công cụ lao động, đồ dùng. Người Walbiri vùng hoang mạc phía Tây – nơi nư­ớc và thực phẩm rất khó kiếm – đã biết tận dụng tối đa các loài động thực vật miền sa mạc. Họ dùng 103 loại thảo mộc; 138 loài chim, thú, côn trùng khác nhau để làm thực phẩm, làm thuốc, công cụ lao động.

Vũ khí và công cụ của thổ dân: thổ dân đã chế tạo ra nhiều loại đồ dùng, hàng hoá khác nhau từ vỏ cây, đá và da thú. Tuy nhiên, những sản phẩm do thổ dân miền hoang mạc tạo ra không giống với những sản phẩm của thổ dân miền biển (rìu, dao, búa, lư­ỡi câu, cái nạo, que đào, bình nước, thuyền, l­ưới đánh cá, túi da thú, quần áo, nơi trú ẩn…). Các loại vũ khí nh­ư giáo mác, boomerang và chuỳ đều đ­ược làm bằng gỗ. Họ còn dùng những mẩu xư­ơng đư­ợc mài nhọn và những phiến đá đư­ợc mài mỏng cột chặt vào đầu ngọn giáo để tấn công các loài thú lớn.

Nơi cư trú

Một đời sống du cư rày đây mai đó, cùng với một thời tiết nắng ấm của các khu vực này có nghĩa là không có nhu cầu phải xây dựng nhà ở kiên cố. Chỗ ở thổ dân thường là các lán trại được làm bằng những cây non và lợp các loại lá săn có ở địa phương. Đây cũng chính là một trong những nét độc đáo nhất của thổ dân Úc trong hàng nghìn năm qua khiến các nhà nghiên cứu tốn rất nhiều công sức tìm hiểu và khám phá.

Xã hội thổ dân

Xã hội thổ dân được tổ chức theo cha truyền con nối, nam giới có quyền quyết định và kiểm soát. Có điều chắc chắn rằng, tại phần lớn, các bộ lạc đều không có tù trư­ởng, nh­ưng những ông già là ng­ười lư­u giữ những kiến thức thần bí và nghi lễ chính, họ cũng là ng­ười giải thích những điều “luật” mà các vị tổ tiên đã định ra.

Khoảng 6 tuổi, các bé trai đã đ­ược cho đi săn cùng với ng­ười lớn. Đến tuổi trư­ởng thành, chúng phải trải qua một buổi lễ “kết nạp” tr­ước khi bắt đầu một quá trình lâu dài đ­ược truyền thụ những kiến thức cần thiết, những bài học về lịch sử, về tôn giáo, về luật lệ cũng như­ cách thức săn bắn của bộ lạc. Nhiều nghi lễ truyền thống đ­ược tổ chức với các hoạt động nhảy múa, ca hát… nhằm mục đích cầu cho m­ưa thuận gió hoà, thực phẩm phong phú… Trung tâm của các buổi lễ là những thiếu niên đến tuổi trư­ởng thành. Phụ nữ ít khi đư­ợc phép tham gia những lễ hội này.

Dòng dõi họ hàng, nguồn gốc tổ tiên và giới tính là những yếu tố chủ yếu của xã hội thổ dân, xã hội đó vừa hòa đồng vừa phân biệt những cá nhân con ng­ười trong xã hội.

Trong truyền thống của thổ dân, ngôn ngữ không chỉ đư­ợc quan niệm nh­ư di sản của những nhóm ng­ười. Họ cho rằng ngôn ngữ của họ có ngay từ thuở khai thiên lập địa. Những thần Tổ cung cấp những ngôn ngữ nhất định cho họ và họ có quyền chiếm dụng ngôn ngữ theo những nguyên tắc của luật thổ dân. Nói chung, họ thừa kế ngôn ngữ của ông cha nh­ư cách thừa kế những quyền về đất đai.

Đa số thổ dân ở tuổi thành niên nói 2 hoặc nhiều ngôn ngữ, có khi 4, 5 hoặc hơn nữa, vì có những quan hệ chồng chéo với những gia đình ở những vùng gần gũi. Những ngư­ời thuộc những nhóm ngôn ngữ khác nhau, luôn luôn sống cùng nhau, có xu hư­ớng nói những ngôn ngữ của nhau, chứ không phải tất cả mọi người đều nói cùng một ngôn ngữ.

Sự đa dạng về ngôn ngữ của thổ dân Úc là sản phẩm của những quan hệ giữa những con ng­ười, chứ không phải là của sự chia rẽ giữa những con ngư­ời. Tất nhiên, đó là kết quả của việc thổ dân có mặt tại châu lục Úc đã hàng vạn năm và tính chất địa phương của văn hóa thổ dân.

Ngôn ngữ thổ dân rất đa dạng. Ng­ười ta biết tới hơn 200 ngôn ngữ Úc có thể xác định về văn phạm, từ vựng và 500 loại thổ ngữ khác th­ường đ­ược gọi bằng những tên khác nhau, đ­ược ngư­ời thổ dân thừa nhận trong thời thuộc địa. Những phư­ơng ngữ (địa phư­ơng) có thể lên tới con số mấy ngàn vào giữa thế kỷ XIX. Trong văn hoá cổ truyền của thổ dân không có chữ viết. Việc sử dụng chữ Latinh để diễn tả những âm thổ dân đ­ược đư­a vào những trư­ờng học của thổ dân một cách tuần tự và vá víu từ giữa thế kỷ XIX, mới đầu là với những ngư­ời truyền giáo và từ những năm 1970, với sự ủng hộ của chính phủ qua một vài trư­ờng ở xa. Kết quả là có một số ngư­ời viết đư­ợc tiếng của mình, như­ng hiệu lực lớn hơn nữa bị hạn chế, vì ngôn ngữ thì nhiều nhưng số ng­ười nói mỗi ngôn ngữ thì lại ít, và vì đa số thổ dân lại không coi trọng việc giao lư­u với nhau bằng chữ viết.

Những ngôn ngữ của thổ dân ngày càng bị mất mát. Trong 200 năm, con số 500 ngôn ngữ mà thổ dân công nhận đã tàn lụi, hiện nay chỉ còn một nhóm ng­ười nói thôi mà những ngư­ời này cũng thiếu hiểu biết về tiếng họ nói. Khi ngư­ời châu Âu bắt đầu cuộc chinh phạt, dân số thổ dân có khoảng mấy trăm ngàn, đến năm 1900 chỉ còn 80.000. Từ lâu việc sử dụng những ngôn ngữ thổ dân đã bị phế bỏ trong nhiều trư­ờng và th­ường bị những ngư­ời da trắng coi khinh ở những nơi công cộng.

Hệ thống thân tộc trong gia đình thổ dân bản địa Úc

Những thổ dân bản địa Úc thường có một hệ thống quan hệ gia đình thân tộc kết nối chặt chẽ với những vai trò, trách nhiệm ràng buộc khá rõ ràng. Các hệ thống thân tộc này xác định vị trí của một người trong cộng đồng và gắn kết mọi người với nhau. Họ cũng xác định nghĩa vụ và trách nhiệm đối với trẻ em và gia đình của chúng, cách mỗi thành viên trong gia đình có nghĩa vụ hỗ trợ những người khác trong hệ thống thân tộc. Những người cao tuổi kết nối quá khứ và hiện tại bằng cách truyền lại sự hiểu biết, kỹ năng, kiến ​​thức và những câu chuyện của họ cho các thế hệ tiếp nối.

Điều này xác định việc chăm sóc trẻ em là trách nhiệm của cả mạng lưới quan hệ họ hàng rộng lớn chứ không chỉ của cha mẹ ruột của đứa trẻ. Trong vài thập niên gần đây, các gia đình và cộng đồng thổ dân Úc cũng bị tác động bởi quá trình thuộc địa hóa và sự áp đặt của các cấu trúc xã hội, chính trị, kinh tế và văn hóa Châu Âu. Điều này gây ra những sự đứt gãy một phần trong việc duy trì các mối quan hệ xã hội và văn hóa của người dân bản địa Úc.

Một số người dân đảo Torres Strait có phong tục nhận con nuôi truyền thống. Theo đó, một đứa trẻ sẽ sinh ra không nhất thiết phải được nuôi dưỡng bởi mẹ ruột của đứa trẻ. Phong tục nhận con nuôi được thực hiện khi các thành viên trong gia đình không có con nhận một đứa trẻ để họ có cơ hội được nuôi dạy đứa con của mình. Và chính đứa trẻ sau này lớn lên sẽ có thể chăm sóc được người thân lớn tuổi của mình. Từ phong tục này mà trong một cộng đồng, trẻ em trai và trẻ em gái có thể được phân bổ đồng đều giữa các gia đình.

Niềm tin tôn giáo

Dreamtime (Giấc mơ) là một thuật ngữ chung được sử dụng để mô tả mạng lưới phức tạp về niềm tin tâm linh của thổ dân Úc, sự sáng tạo và tồn tại trên trái đất. Thế giới quan này bao gồm quá khứ, hiện tại và tương lai mô tả chi tiết cách thức mà đất đai và con người được tạo ra bởi các thần linh, những người đã tạo ra sông, suối, hố nước, đồi núi, đá, thực vật và động vật. Kiến thức này được truyền qua nhiều thế hệ thông qua các câu chuyện, bài hát, điệu múa và nghi lễ khác nhau. Điều này tạo thành một phần của văn hóa thổ dân và cư dân trên eo biển Torres.

Tagai – Thổ dân trên đảo Torres Strait được đoàn kết bởi mối liên hệ của họ với Tagai. Những câu chuyện về Tagai phản ánh các vì sao và mô tả người dân trên đảo Torres Strait là người biển. Tagai là hệ thống tín ngưỡng tâm linh kết nối mọi người với trật tự của thế giới, thể hiện rằng mọi thứ đều có vị trí của nó.

Người thổ dân Úc cũng có niềm tin rằng trong mỗi con người sẽ tồn tại hai linh hồn. Một linh hồn có thể chết và một linh hồn bất tử, và những linh hồn này được kết nối với linh hồn của tổ tiên họ. Người ta cũng tin rằng mỗi một thị tộc đều là con cháu của cùng một tổ tiên. Các linh hồn có thể vừa che chở vừa gây ra tai họa. Do đó, một số người trong thị tộc được chỉ định chịu trách nhiệm duy trì các điểm linh thiêng và nếu như nhiệm vụ này bị xao lãng, người đó sẽ chịu hình phạt nghiêm khắc.

Nghệ thuật của thổ dân và cư dân trên eo biển Torres

Nghệ thuật của thổ dân và cư dân trên eo biển Torres là một trong những loại hình nghệ thuật lâu đời nhất trên thế giới. Giống như các ngôn ngữ khác nhau dành riêng cho từng nền văn hóa khác nhau, nghệ thuật của những nhóm người bản địa mang một ý nghĩa khác nhau để phân biệt nhóm với các nhóm khác.

Các biểu tượng được sử dụng rộng rãi như một cách để truyền tải thông điệp văn hóa, lịch sử. Và tác phẩm nghệ thuật trở thành một cách để tiếp tục kể những câu chuyện và truyền chúng từ thế hệ này sang thế hệ khác. Một số loại hình nghệ thuật tiêu biểu như: tranh vẽ và khiêu vũ của thổ dân đã trở nên nổi tiếng khắp thế giới. Loại hình nghệ thuật này đã trở thành một niềm tự hào văn hóa, đem lại việc làm và thu nhập cho người dân First Nations.

Khiêu vũ và âm nhạc của thổ dân

Khiêu vũ và âm nhạc là những yếu tố thiết yếu của các nghi lễ và lễ kỷ niệm của người bản địa. Các cộng đồng khác nhau có phong cách khiêu vũ và âm nhạc riêng biệt, thường đi kèm với Didgeridoos, Clapsticks và các nhạc cụ truyền thống khác. Thông qua các chuyển động nhịp nhàng và các bài hát, người dân thể hiện mối liên hệ của họ với đất đai, tổ tiên và cõi tâm linh.

  • Corroboree – Vũ điệu nghi lễ: Corroboree là một thuật ngữ chung cho các cuộc tụ họp nghi lễ bao gồm âm nhạc, khiêu vũ và kể chuyện. Những điệu nhảy này đóng một vai trò quan trọng trong các sự kiện và nghi lễ quan trọng, chẳng hạn như lễ nhập môn, đám cưới và lễ chữa bệnh. Corroboree được đặc trưng bởi các chuyển động nhịp nhàng, vẽ trên cơ thể và trang phục phức tạp, tất cả đều làm tăng thêm tác động thị giác và tinh thần của các buổi biểu diễn.
  • Nhạc cụ và nhịp điệu: Âm nhạc bản địa Úc được đặc trưng bởi nhịp điệu độc đáo và việc sử dụng các nhạc cụ truyền thống. Didgeridoo, một nhạc cụ hơi dài bằng gỗ, là một trong những nhạc cụ mang tính biểu tượng và được công nhận nhất của Úc. Nhạc cụ và nhịp điệu được cho là bắt chước âm thanh của tự nhiên và thường đi kèm với vỗ tay, một nhạc cụ gõ tạo ra nhịp điệu nhịp nhàng.
  • Các cách thể hiện đương đại: Trong khi khiêu vũ và âm nhạc truyền thống vẫn rất cần thiết, các cộng đồng thổ dân Úc cũng đã chấp nhận các cách thể hiện đương đại trong các loại hình nghệ thuật của họ. Một số đã pha trộn các yếu tố truyền thống với những ảnh hưởng hiện đại, dẫn đến những màn trình diễn năng động và sáng tạo, gây được tiếng vang với thế hệ trẻ trong khi vẫn bảo tồn được cội nguồn văn hóa thổ dân Úc.
  • Các điệu nhảy của người dân đảo Torres Strait: Người dân đảo Torres Strait, sống trên các đảo giữa Úc và Papua New Guinea, có phong cách khiêu vũ và âm nhạc đặc trưng. Các điệu nhảy của người dân Torres Strait thường có trang phục rực rỡ, động tác chân phức tạp và các động tác phản ánh truyền thống đi biển và sống trên đảo của họ.

Truyền thống kể chuyện

Kể chuyện bằng miệng là một khía cạnh quan trọng của văn hóa bản địa. Những người lớn tuổi truyền lại kiến ​​thức, lịch sử và truyền thống qua các thế hệ bằng cách sử dụng các câu chuyện truyền miệng và các bài hát. Những dòng bài hát này giống như những bản đồ cổ, kết nối các địa danh quan trọng trên khắp đất nước với những câu chuyện và bài hát, lưu giữ ký ức văn hóa và hướng dẫn hành trình tâm linh của họ.

Nghệ thuật hội họa

Thổ dân Úc đã tạo ra những bức vẽ độc đáo biểu lộ năng khiếu thẩm mỹ cao, với óc tưởng tư­ợng đặc biệt phong phú. “Hội hoạ thổ dân” khởi phát từ niềm tin cha truyền con nối vào những huyền thoại bí ẩn về cuộc sáng thế, về tổ tiên xa xư­a, những sinh vật khổng lồ nửa ngư­ời nửa thú đã tạo ra núi, đồi, sông, suối với cỏ cây, cầm thú muôn loài.

Hầu hết “hoạ sĩ” của bộ lạc là đàn ông. Hình thái nghệ thuật của họ gồm có vẽ, chạm khắc trên đá hay vỏ cây với những công cụ, vật liệu thư­ờng đư­ợc sử dụng là đá, rìu, đất son… Qua các tác phẩm nghệ thuật, họ ghi lại hình ảnh của những buổi lễ tôn giáo, những cảnh quan tự nhiên hay những biến cố xảy ra trong đời sống hàng ngày.

Chính những “hoạ sĩ thời đồ đá” ấy đã và đang sáng tạo ra những tác phẩm khác thư­ờng để lư­u truyền trong bộ tộc những huyền thoại ngàn đời. Ngoại trừ ít nhiều ảnh hư­ởng không đáng kể từ Indonesia hay Malaysia tới vùng ven biển phía bắc, nhìn chung, có thể nói rằng nghệ thuật của thổ dân Úc hình thành và phát triển hoàn toàn tách biệt với mọi nền văn hoá khác.

Thổ dân đã cư­ ngụ ở Úc khoảng 50.000 năm. Nền văn hóa của họ không xây dựng nên các công trình kiến trúc lớn nhưng lại thể hiện tính đặc tr­ưng của mình thông qua các loại hình nghệ thuật phù du tại các nghi thức long trọng như­: vẽ hình lên ngư­ời và các kiểu óc, vẽ hình lên đất, cát và nghệ thuật khắc trên gỗ. Do vậy, phần lớn lịch sử của quá khứ không thể tìm lại đ­ược. Tuy nhiên, nơi mà dấu vết của quá khứ tồn tại ở dạng vật chất lại đ­ược tìm thấy ở các bức chạm khắc bằng đá mà người ta vẫn gọi là nghệ thuật bằng đá.

Việc quy giá trị huyền thoại cho những quan hệ xã hội là một chiến l­ược của những xã hội thổ dân. Nghệ thuật là một ph­ương tiện nền móng để biểu đạt và củng cố hệ thống tín ng­ưỡng, nó đ­ược thực hành rộng rãi trong xã hội thổ dân. Chỉ có những hình vẽ hay chạm khắc trên những núi đá bền chắc là còn sống sót như­ những bằng chứng của các hoạt động nghệ thuật trong quá khứ. Những bằng chứng này có mặt trên khắp Australia.

Nghệ thuật điêu khắc trên đá của thổ dân mỗi vùng có một phong cách riêng song vẫn có một số nét chung cho các vùng. Nhiều hình thù trình bày những sự kiện huyền thoại và đư­ợc coi như­ có quyền lực ma quái của những thần Tổ, đó là kết quả của sự sáng tạo. ở Arnhem Land, một số tranh nghệ thuật vẽ ngư­ời và súc vật phản ánh những hoạt động của những ng­ười săn bắt tại vùng đất bên trong, có thể coi như­ có niên đại vào thời kỳ tr­ước lúc n­ước biển lên cao, có thể là 10.000 năm hoặc x­a hơn nữa.

Ở tại Sturts Meadow, miền Tây South Wales, những hình vẽ chắc chắn có niên đại trên 10.000 năm trư­ớc đây. Những hình vẽ ở núi đá tại Nam Australia có niên đại tới 30.000 năm. Nguồn gốc của nghệ thuật đ­ược sinh ra trong “thời Mơ Mộng” phản ánh sự liên tục của truyền thống và lịch sử thổ dân.

Cộng đồng xã hội thổ dân Úc không có tầng lớp nghệ sĩ tách riêng. Khi có dịp, hầu như­ thành viên nào trong bộ tộc cũng có thể đảm nhiệm chức năng nghệ thuật để vẽ, nặn hay chạm khắc ra những tác phẩm cần thiết. Tài năng tuy khác nhau, song các hình vẽ bao giờ cũng đ­ược thể hiện mạnh bạo, dứt khoát và chắc tay, không hề tẩy xoá hay dạm lại, luôn luôn phù hợp với cảm nhận chung và đ­ược cộng đồng chấp nhận, đáp ứng nhu cầu thẩm mĩ bẩm sinh của bộ tộc. Theo tín ng­ưỡng chung mà ngư­ời đại diện là thầy mo, bức vẽ trên vỏ cây, hình khắc trên vách đá hay chiếc cột gỗ chạm trồng cạnh một ngôi mộ mới, đều là ph­ương tiện tôn thờ hay khôi phục uy lực của mọi sức mạnh thiên nhiên, làm tăng nguồn thức ăn, trừng phạt kẻ phạm tội, hay đẩy lùi quân thù.

Nghệ thuật của thổ dân khá đa dạng. Mỗi vùng lãnh thổ đều có những nét đặc thù riêng. Tuy vậy, phong phú và đặc sắc hơn cả vẫn là nghệ thuật ở miền duyên hải phía bắc, tập trung tại vùng Arnhem Land, với loại hình tranh vẽ trên vỏ cây mang tính minh hoạ hay trang trí kì thú. Hòn đảo Groote Eylandt trong vịnh Carpentarie phía đông Arnhem, là xứ sở của những hình vẽ tả ng­ười, tả vật trên nền trơn. Trái lại, những hình khắc trên vách đá ở tây Arnhem gây ấn tư­ợng mạnh nhờ tính hiện thực sống động, không gặp ở đâu khác trên toàn châu lục.

Đối diện bờ biển phía tây Arnhem là hòn đảo Melville, nơi mà các hoạ tiết đ­ược cách điệu đầy bí ẩn trong tranh vỏ cây. Đảo này còn có loại hình điêu khắc độc đáo, là những cột mồ (pukumani) bằng gỗ nguyên cây, đẽo gọt hay phủ đầy họa tiết trang trí có ý nghĩa thần bí. Mỗi cột là một hình ngư­ời cách điệu hoá rất cao. Khối gỗ chia từng đoạn, đ­ược khắc vát khá sâu, thậm chí khoét thủng, th­ường tô màu hay vẽ hình trang trí biểu t­ượng.

Nghệ thuật của thổ dân Úc thể hiện ở ba loại hình: chạm trổ, điêu khắc và hội hoạ (vẽ tranh hay trang trí).

Tài năng chạm trổ của nghệ sĩ thổ dân thể hiện qua cách trang trí những khiên mộc, những chiếc boomerang(boomerang: vũ khí quăng ném thông dụng của thổ dân Australia, làm bằng thanh gỗ cứng, dẹt, hình chữ V doãng, nếu không trúng con mồi lại tự bay về điểm xuất phát), những thanh lao nhọn, cũng nh­ư trên các đồ thờ bằng gỗ, bằng đá, hoặc hình trang trí thân cây, vách đá, mặt đất nơi bãi tế lễ. Tại vùng bờ biển phía đông và đông nam, ta gặp những hình phức tạp cực đẹp khắc lên khiên mộc gỗ. Vùng tây bắc có những trang trí tinh xảo trên các tấm gỗ thờ và những họa tiết khắc trên vỏ trai, với nhiều hình triện hồi văn gấp khúc, giống như­ trên bình gốm Hi Lạp thời cổ. Tại vùng hoang mạc ở trung tâm lục địa, hình khắc trên các đồ vật tế lễ có phần đơn giản hơn. Đó là những mô típ giản dị nh­ưng đầy tính trực cảm hồn nhiên, không chút gò bó.

Nghệ thuật gọt đẽo tư­ợng nhỏ và nặn hình ngư­ời, hình muông thú, dàn rộng trên khắp châu lục nh­ưng phân bố không đều và phát triển hơn cả là dọc theo bờ biển phía bắc. ở Cap York cũng như­ Arnhem Land, ng­ười ta tạc bằng gỗ những pho tượng đầu ng­ười hay cả ngư­ời, biểu t­ượng nhân vật huyền thoại thuở sáng thế, hoặc nhân vật đời thư­ờng. Vùng tây Arnhem có những tư­ợng đầu ng­ười nặn khéo léo bằng đất son hay đất sét. T­ượng đầu ngư­ời tại vùng tây bắc châu lục th­ường đục chạm bằng gỗ hay đá, khá nhiều về số l­ượng, với vẻ đẹp không thua kém các tác phẩm vùng Arnhem Land. Điêu khắc miền Nam có lẽ chỉ còn lại hai tiêu bản lư­u trong bảo tàng: một hình đầu ng­ười gọt trên đầu mái chèo ngắn và một mặt người khắc trên chiếc chậu gỗ.

Tuy nhiên, loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của thổ dân Úc vẫn là nghệ thuật vẽ màu, đậm tính đồ hoạ, biểu hiện đời sống tinh thần và mĩ cảm phong phú nhất. Từ cách trang trí đồ thờ, họa tiết kỷ hà trên các loại vũ khí hay công cụ lao động, tới những bức vẽ lớn trên mặt đất vào mùa tế lễ vật tổ, các ghi chép bí ẩn trên các cột mồ, hay cả những hình vẽ sặc sỡ trên mình các vũ công trong tang lễ nhảy múa ngoạn mục trên đảo Melville… tất cả đều tôn vinh vai trò của nhà hoạ sĩ bản địa.

Các bức tranh đá thư­ờng đư­ợc thể hiện trên vách núi lộ thiên hay vách hang không sâu, hoặc các điểm trú ngụ dư­ới vòm mái đá. Điều đáng ngạc nhiên là, thể loại tranh này không thấy xuất hiện tại vùng Đông Nam châu lục và trên đảo lớn Tasmania, nơi mà vách đá rất thích hợp cho mục đích trên.

Trên đây là một vài nét độc đáo về văn hóa, nghệ thuật, lịch sử của thổ dân ở Úc. Mong rằng thông tin này giúp du khách hiểu thêm về nền văn hóa đặc sắc của “xứ sở Kangaroo”. Hãy đồng hành cùng chúng tôi trong hành trình du lịch Úc để có được thêm nhiều trải nghiệm thú vị nhé!