Tỉnh Sơn Tây, nằm ở phía tây núi Taihang với sông Hoàng Hà chảy về phía tây, là một trong những cái nôi của nền văn minh Trung Hoa. Đây cũng là một trong những địa danh du lịch nổi tiếng được lữ khách lựa chọn khi đến với khu vực phía Bắc Trung Quốc.
Tỉnh Sơn Tây nằm ở phía Bắc của Trung Quốc. Giản xưng của Sơn Tây là “Tấn”, theo tên của nước Tấn tồn tại trong thời kỳ Tây Chu và Xuân Thu. Tên gọi Sơn Tây có nghĩa là “phía tây núi”, ý đề cập đến vị trí của tỉnh ở phía Tây của Thái Hành Sơn. Sơn Tây giáp Hà Bắc về phía Đông, Hà Nam về phía Nam, Thiểm Tây về phía Tây và Nội Mông về phía Bắc. Tỉnh lỵ của Sơn Tây là thành phố Thái Nguyên.
Tỉnh Sơn Tây có lịch sử lâu đời và từng là trung tâm kinh tế của Trung Quốc suốt nhiều triều đại. Khi Nhật Bản cai trị, tỉnh bị tàn phá nặng nề cho đến khi Cách mạng Cộng sản thành công mới dần khôi phục lại. Đến bây giờ, sự phát triển của ngành công nghiệp khai thác than và luyện kim đã mang đến nguồn sống mới cho Sơn Tây. Tuy nhiên, điều này lại gây ảnh hưởng không nhỏ tới ngành du lịch bởi không khí ô nhiễm quá nặng. Dẫu vậy, vẫn có nhiều địa điểm du lịch hấp dẫn và độc đáo đáng để du khách ghé thăm như:
1. Ngũ Đài Sơn
Ngũ Đài Sơn còn gọi là Thanh Lương Sơn, nằm trong địa phận huyện Ngũ Đài, địa cấp thị Hãn Châu, tỉnh Sơn Tây, là một trong tứ đại Phật giáo danh sơn tại Trung Quốc.
Ngũ Đài Sơn là nơi Văn Thù hiển thánh, truyền thuyết kể như sau: Một năm nọ nơi đây có tổ chức một bữa tiệc ăn chay lớn. Một phụ nữ hành khất dắt theo hai đứa con nhỏ và một con chó đói tới ăn xin, được cho ba xuất, chưa cho là đủ, nói: “Con chó cũng nên có phần”. Hòa thượng cho thêm một xuất, người phụ nữ lại nói: “Trong bụng tôi còn một đứa bé cũng nên có phần”. Vị hòa thượng nổi giận: “Đứa bé còn chưa sinh ra cũng đòi phần ăn, thật không biết thế nào là đủ”. Người phụ nữ bèn đáp: “Chúng sinh bình đẳng,thai nhi chẳng nhẽ không phải là người?”. Nói rồi, người phụ nữ cắt tóc, bay lên trời, xuất hiện pháp tướng Bồ Tát, hai đứa con hóa thành hai đồng tử, con chó biến thành sư tử xanh. Đến nay Ngũ Đài sơn còn có Phát tháp Văn Thù, tương truyền là nơi cất giữ tóc của Văn Thù Bồ Tát.
Ngày nay, người ta vẫn tin rằng bồ tát Văn Thù Bồ Tát thường hiển linh trên núi này dưới dạng những người hành hương hay nhà sư bình thường hoặc hay xuất hiện dưới dạng các đám mây ngũ sắc.

Ngũ Đài Sơn cũng là quê hương của một số công trình kiến trúc bằng gỗ cổ nhất hiện còn tồn tại ở Trung Quốc, có từ thời kỳ nhà Đường (618-907). Trong số này có sảnh chính của chùa Nam Sơn và sảnh đông của chùa Phật Quang, được xây dựng tương ứng vào các năm 782 và 857. Chúng được một nhóm các nhà sử học kiến trúc phát hiện năm 1937 và 1938, trong đó có cả sử gia nổi tiếng đầu thế kỷ XX là Lương Tư Thành (1901-1972). Thiết kế kiến trúc của các công trình xây dựng này được các nhà Hán học và các chuyên gia hàng đầu về kiến trúc Trung Hoa truyền thống, như Nancy Steinhardt, nghiên cứu kể từ đó tới nay. Steinhardt đã phân loại các công trình xây dựng này theo các kiểu sảnh đặc trưng trong cẩm nang hướng dẫn về xây dựng của người Trung Quốc là Doanh tạo pháp thức được viết trong thế kỷ XII.
Năm 2008, chính quyền Trung Quốc hi vọng rằng tổ hợp chùa chiền trên Ngũ Đài Sơn sẽ được đưa vào danh sách di sản thế giới của UNESCO.
Tổng cộng có 39 ngôi chùa trong khu vực bên trong Ngũ Đài Sơn và 8 ngôi chùa bên ngoài Ngũ Đài Sơn. Ngũ Đài sơn là nơi duy nhất có sự kết hợp các dòng Phật giáo của người Hán bản địa với các dòng Phật giáo từ Tây Tạng và Nội Mông Cổ nên được các dân tộc ít người tại Trung Quốc rất tôn sùng.
Chùa Nam Sơn là chùa lớn nhất trên Ngũ Đài Sơn, xây dựng từ thời nhà Nguyên. Chùa bao gồm 7 tầng, chia ra làm 3 phần. Ba tầng thấp nhất được gọi là Cực Lạc tự; tầng giữa gọi là Thiện Đức đường; ba tầng trên gọi là Hữu Quốc tự. Các chùa chiền chính khác còn có chùa Hiển Thông, chùa Tháp Viện và Bồ Tát đính.
Các chùa quan trọng khác bên trong Ngũ Đài Sơn còn có: chùa Thọ Ninh, chùa Bích Sơn, chùa Phổ Hóa, Đại Loa đính, chùa Thê Hiền, Thập Phương đường, chùa Thù Tượng,… Các chùa bên ngoài Ngũ Đài Sơn có: chùa Duyên Khánh, chùa Nam Thiện,…
2. Hằng Sơn & Huyền Không Tự

Hằng Sơn còn gọi là Nguyên Nhạc hay Thường Sơn, nằm ở huyện Hồn Nguyên thuộc tỉnh Sơn Tây, là một núi trong “Ngũ Nhạc”, nên còn gọi là Bắc Nhạc. Đỉnh cao nhất của Hằng Sơn là Thiên Phong Lĩnh cao 2.016,1m, miếu thờ chính là miếu Bắc Nhạc, thờ thần Hằng Sơn (Bắc Nhạc đại đế). Tương truyền rằng vua Thuấn khi đi tuần thú tới đây đã phong Hằng Sơn là Bắc Nhạc. Theo Đạo giáo, một trong bát tiên là Trương Quả Lão cũng tu tiên tại đây, và sau cùng, tại đỉnh Hằng Sơn, ông đã cưỡi một chiếc lông bay lên trời.
Từ đầu thời kỳ Tây Hán, Hằng Sơn đã có chùa miếu; đến thời kỳ Minh, Thanh thì chùa miếu đã khá đông đúc, với “tam tự, tứ từ, cửu đình các, thất cung, bát động, thập nhị miếu” (ba chùa, bốn đền thờ, chín đình gác, bảy cung, tám động, mười hai miếu). Phong cảnh Hằng Sơn vừa hùng vĩ, vừa hiểm trở với các ngôi chùa kì lạ, các dòng suối đẹp, được Từ Hà Khách (1587-1641) thời nhà Minh ghi chép lại trong Từ Hà Khách du ký. Thời cổ Hằng Sơn có tới 18 thắng cảnh, ngày nay còn tồn tại Triều điện, Hội Tiên phủ, Cửu Thiên cung cùng Kim Long khẩu và Huyền Không Tự.

Huyền Không Tự nằm cheo leo trên vách đá núi Hằng Sơn của tỉnh Sơn Tây có niên đại từ thời Bắc Nguỵ (386 – 557) và đã trải qua hơn 1.400 năm lịch sử. Chùa được xây dựng theo lối kiến trúc rất độc đáo. Đó là những chiếc xà được chôn vào chân hốc đá để làm móng còn vách núi phía sau thì làm chỗ dựa vững chắc. Bên cạnh đó, đây còn là nơi duy nhất hiện nay còn thờ cả Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo. Khi vào tham quan chùa, du khách sẽ được thấy khoảng 40 đền thờ với hơn 80 tác phẩm điêu khắc làm bằng đồng, sắt, đá, bùn.
3. Hang đá Vân Cương
Hang đá Vân Cương nằm ở phía Nam chân núi Vũ Châu, cách thành phố Đại Đồng thuộc tỉnh Sơn Tây 16km về phía Tây. Hang đá này được bắt đầu đục khắc vào năm thứ hai thời Bắc Ngụy (năm 453) và được hoàn thành vào năm 494. Khi triều đình nhà Ngụy rời đô đến Lạc Dương, công trình tạc tượng kéo dài cho mãi đến giữa những năm Chính Quan (520-525) mới hoàn thành. Hang đá được đục tác men theo sườn núi, dài khoảng 1km từ Đông sang Tây, rộng khoảng 400km2, với cách tạc phong phú và sắc nét, hoành tráng.
Cho đến nay tại Vân Cương còn lại 45 động chính, 252 động nhỏ với 51.000 pho tượng đá. Trong đó pho tượng cao nhất có chiều cao 17m, tượng nhỏ nhất chỉ có chưa đến 10cm. Các pho tượng Bồ Tát, lực sĩ, phi thiên đều rất sinh động và hoạt bát.

Toàn bộ quần thể này chia thành 3 phần: Đông, Trung và Tây, trong động có các khám thờ Phật được tạc dày như tổ ong. Phần phía Đông chủ yếu là các tháp, nên còn gọi là động tháp. Các động ở giữa, mỗi động đều phân thành hai gian trước – sau, ở giữa là Phật tổ, vách động và đỉnh động đều dày đặc các bức phù điêu. Phía Tây chủ yếu là các động nhỏ, đa phần là tác phẩm sau khi Bắc Ngụy rời đô về Lạc Dương (thuộc tỉnh Hà Nam ngày nay).
Nếu như toàn bộ các tượng trong quần thể động Vân Cương đều được tạc ở trong lòng núi, thì riêng động thứ 20 lại là “động” lộ thiên, ở giữa là tượng Thích Ca ngồi, cao 13,7m. Tượng có khuôn mặt tròn trịa đẫy đà, bờ vai to rộng, tạo hình hùng vĩ, dưới ánh mặt trời phía Tây rọi lại càng tăng vẻ thâm trầm, được coi là tác phẩm tiêu biểu của nghệ thuật điêu khắc động Vân Cương.
Không chỉ có kiến trúc độc đáo, điêu khắc phong phú, hang đá Vân Cương còn là cơ sở để nghiên cứu và tìm hiều về văn hóa, lịch sử Phật giáo của Trung Quốc cũng như khu vực Châu Á. Vào năm 2001, Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa của Liên hiệp quốc đã công nhận Hang đá Vân Cương là Di sản văn hóa thế giới.
4. Thành cổ Bình Dao
Nằm ở miền Trung tỉnh Sơn Tây, Thành cổ Bình Dao nổi tiếng với những bức tường thành cổ và đường phố giữ nguyên được nét cổ kính xưa. Đây là thành cổ lịch sử cấp quốc gia, được xây dựng từ thời Tây Chu dưới thời Chu Tuyên Vương (827-782 TCN), đến thời Minh Hồng Vũ được trùng tu lại, bọc gạch toàn bộ và đến thời Khang Hy lại xây dựng thêm các lầu thành khiến tòa thành càng thêm hoành tráng.
Hình dáng bên ngoài của thành cổ nhìn như hình con rùa, có sáu cửa thành. Thành cổ có hình vuông, chu vi 6.157,5m. Thân tường đắp bằng đất thô, ngoài bọc gạch. Tường thành dài hơn 6.000m, cao 12m, đỉnh thành dày 3-6m, chân thành dày 9-12m. Trên thành cứ cách 50m thì xây một tháp canh, 4 góc thành mỗi góc xây một gác lầu. Phía trên tường thành xẻ 300 cửa và xây 72 tháp canh nhỏ tượng trưng cho 72 hiền nhân của Khổng Tử. Diện tích trong thành là 2.250km2. Đường phố theo hướng Nam Bắc chính là trục giữa của thành cổ, cửa Bắc hơi lệch sang hướng Tây.

Mọi kiến trúc nhà ở của thành cổ Bình Dao đều là các khuôn viên tứ hợp viện xây bằng gạch màu tro có đường trục rõ ràng, đối xứng phải trái, chính phụ. Bên ngoài của mỗi khuôn viên khép kín, tường cao 7-8m. Cái đặc biệt của các ngôi nhà ở tại thành cổ Bình Dao vẫn giữ được kiểu nhà hang động của khu vực Tây Bắc của Trung quốc với các kiến trúc khắc gỗ, khắc gạch trên cửa sổ, cửa ra vào.
Trong thành cổ Bình Dao còn có 6 ngôi chùa có lịch sử lâu đời, khu vực xung quanh chùa có những dãy cửa hàng với mái ngói lưu ly màu vàng và màu xanh lá cây. Những kiến trúc cổ kính này đã phát họa bộ mặt sầm uất của ngành kinh doanh buôn bán tại Trung Quốc dưới thời nhà Minh và nhà Thanh. Bên cạnh đó, Bình Dao còn lưu giữ được nhiều những di tích, hiện vật cổ như điện Vạn Phật, chùa Chấn Quốc ở phía Đông Bắc thành cổ. Hai ngôi chùa này đều được xây dưng bằng gỗ quý, đến nay đã có hơn 1.000 năm tuổi. Các bức tượng màu của chùa được làm từ thế kỷ X, đây là một trong những bức tượng màu được làm sớm nhất tại Trung Quốc. Ngoài ra còn có hơn 1.000 tấm bia khắc thời cổ dựng khắp trong và ngoài thành Bình Dao.
Trong thành cổ Bình Dao có một kiến trúc đặt chính giữa khiến khách tham quan đặc biệt chú ý, đó là Thị Lầu. Thị Lầu hình vuông trên diện tích 133,4m2 cao 18,5m lợp ngói lưu ly vàng, xanh, 4 bề có hành lang xung quanh, mỗi góc có 3 cột. Toàn bộ lầu chia làm 3 tầng, lên trên nhỏ dần, càng tạo hình dáng của lầu cao thanh thoát. Dưới chân lầu về hướng Đông Nam có một giếng nước, tương truyền nước trong giếng như màu vàng kim nên Thị Lầu còn có tên khác là “Kim Tỉnh Lầu”.
Thành cổ Bình Dao trong quá khứ đã đóng vai trò quan trọng trong lịch sử phát triển kinh tế Trung Hoa. Bởi tỉnh Sơn Tây lại là một trong những trung tâm thương mại ra đời sớm nhất ở Trung Quốc. Vào những năm giữa thế kỷ XVIII là thời điểm hoạt động thương mại của Sơn Tây sôi nổi và sầm uất nhất. Vào thời gian đó, chỉ riêng thành cổ Bình Dao đã có 18 chợ bán buôn hoạt động nhộn nhịp trong nội thành. Năm 1824, Bình Dao xuất hiện ngân hàng sơ khai đầu tiên của Trung Quốc gọi là “Nhật Thăng Xương”, lấy hình thức hối phiếu thay đổi chế độ chi trả tiền mặt truyền thống.
Ngày nay, Thành cổ Bình Dao vẫn giữ được gần như nguyên vẹn các nét xưa là điểm thu hút khách du lịch trong và ngoài nước của tỉnh Sơn Tây.
5. Núi Vân Kiều & Làng cổ Taerpo
Vân Kiều là một ngọn núi nổi tiếng của Đạo giáo nằm ở huyện Tương Ninh, thành phố Lâm Phần thuộc tỉnh Sơn Tây. Khu thắng cảnh núi này chủ yếu bao gồm: Zushiding, Yuhuangding, làng cổ Taerpo, cung điện Wulong và các danh lam thắng cảnh khác. Đặc biệt, làng cổ Taerpo là một nơi ít ai biết đến.
Làng cổ Taerpo (Tháp Nhĩ Ba) không chỉ có cảnh sắc thiên nhiên tráng lệ, tươi đẹp mà còn có một di sản văn hóa sâu sắc. Ghi chép lịch sử về nguồn gốc của nơi này có từ 1.500 năm trước. Theo truyền thuyết, Lão Tử đã đến đây khi đi du hành khắp thế giới, sau này có rất nhiều nhà giả kim của Đạo giáo đã đến đây, nổi tiếng nhất là Khâu Xứ Cơ.

Làng cổ Tháp Nhĩ Ba nằm trên sườn núi, khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp, tạo cho người ta cảm giác như chốn thiên đường. Tản bộ dọc theo con đường lát đá trong làng, 2 bên có rất nhiều ngôi nhà cổ, hầu hết được bảo tồn rất tốt. Nhiều kiến trúc sư đã đến đây để khảo sát và xác định chúng như “Hóa thạch sống của các công trình nhà ở”.
Vì ngôi làng này được kỳ vọng trở thành một địa điểm thu hút khách du lịch, cư dân ban đầu sống ở đây được chuyển đến những ngôi nhà mới dưới núi. Giao thông đi lại ở đây rất bất tiện, xuống dưới chân núi sẽ có môi trường sống tốt hơn rất nhiều, đây cũng là một điều tốt cho người dân địa phương.
Thông qua những ngôi nhà được xây dựng theo kiểu hang động, mặc dù có một số nơi bị đổ nát, nhưng nó cũng phần nào thể hiện được những năm tháng lịch sử trước đây.
Là một phần quan trọng của điểm du lịch 5A cấp quốc gia, tại làng cổ Tháp Nhĩ Ba, du khách có thể trải nghiệm những nét đặc trưng phong phú như: múa eo, múa rối bóng và phong tục đám cưới địa phương.
6. Chùa Yingxian

Yingxian là một ngôi chùa bằng gỗ được xây vào năm 1056 dưới thời nhà Liêu (907 – 1125). Chùa Yingxian cao khoảng 67,31m và là toà nhà bằng gỗ lớn nhất Trung Quốc. Do đó, nơi đây là một trong các điểm đến thu hút ở Sơn Tây được nhiều khách du lịch ghé thăm. Khi nhìn từ bên ngoài, nhiều người nghĩ rằng chùa có 5 tầng nhưng kiến trúc nội thất bên trong lại có tới 9 tầng.
7. Thôn Đại Trại

Nằm trên địa hình đồi núi hiểm trở, thôn Đại Trại thuộc huyện Tích Dương là một địa danh lịch sử nổi tiếng trong Cách mạng Văn hóa. Nơi đây được xem là tấm gương sáng về sức mạnh của giai cấp vô sản, đặc biệt là nông dân trong cuộc đấu tranh chống lại áp bức, bóc lột.
8. Đền Jin Ancestral

Nằm cách 25km về phía Tây Nam thành phố Thái Nguyên thuộc tỉnh Sơn Tây, Đền Jin Ancestral là một trong những địa điểm thu hút khách thăm viếng. Công trình này tự hào khi có toà nhà cổ xưa nằm trong bầu không khí yên tĩnh. Du khách sẽ bị ấn tượng bởi sự kết hợp giữa kiến trúc sang trọng với các tác phẩm điêu khắc khéo léo. Đặc biệt là trong ngôi đền này còn thờ rất nhiều bài vị của những Hoàng đế nổi tiếng qua các triều đại. Vì thế mà nhiều người đã nói rằng nếu không ghé thăm Đền Jin Ancestral khi đến Thái Nguyên cũng giống như không đến Tử Cấm Thành khi đang ở Bắc Kinh.
9. Ngõ Liu Xiang
Được đặt tên theo nhà Nho Liu Xiang thời Tây Hán, con ngõ Liu Xiang ở thành phố Thái Nguyên cho tới nay vẫn giữ gìn vẻ đẹp kiến trúc từ thời nhà Minh. Kiến trúc độc đáo của ngõ nổi bật qua những ngôi nhà truyền thống Siheyuan. Các cấu trúc này thể hiện sự tinh tế trong từng đường nét chạm khắc và sắp xếp không gian sống, đem lại cái nhìn sâu sắc về nghệ thuật và phong cách sống cổ đại.

Không chỉ vậy, ngõ Liuxiang còn là trung tâm thương mại sầm uất với hàng loạt cửa hàng thủ công, ẩm thực và lưu niệm. Đây là nơi lý tưởng để khám phá và trải nghiệm nền văn hóa địa phương qua từng sản phẩm đặc trưng. Ngoài ra, con ngõ cũng thường xuyên sôi động với các sự kiện văn hóa như âm nhạc, thư pháp và nghệ thuật dân gian. Mỗi sự kiện là cơ hội để du khách chìm đắm trong không khí truyền thống và hiện đại hòa quyện.
10. Chùa Chongshan
Chùa Chongshan là một biểu tượng của sự thiêng liêng và kiến trúc cổ kính tại thành phố Thái Nguyên. Ngôi chùa này được xây dựng lần đầu tiên vào thời Đường (618-907) và được biết đến với cái tên Chùa Bạch Mã. Vào năm 1381, Zhu Gang, con trai thứ ba của Hoàng đế nhà Minh đầu tiên Zhu Yuanzhang, đã tái xây dựng và đổi tên chùa thành Chùa Chongshan để tưởng nhớ người mẹ quá cố của mình.

Chùa Chongshan không chỉ là một địa điểm tôn giáo mà còn là nơi lưu giữ và phản ánh sâu sắc về văn hóa và lịch sử lâu đời của Trung Quốc Chùa Chongshan từng là một trung tâm Phật giáo quan trọng nhưng đã bị thiêu rụi trong một trận hỏa hoạn năm 1864 dưới thời nhà Thanh. Đến nay, Dại Bi Điện (Đại Bệ Điện) vẫn duy trì được bản chất của chùa và chứa đựng ba bảo vật quý giá. Bảo vật đầu tiên là bản gốc của kinh điển Phật giáo từ các triều đại Tống, Minh và Thanh. Thứ hai là tượng Nghìn Tay Quan Âm cao 8,5m đứng chính giữa. Bảo vật thứ ba là ba tượng Bồ tát bằng bùn mạ vàng, vẫn giữ nguyên màu sắc tươi sáng và bề mặt mịn màng. Ngoài ra, chùa còn lưu giữ một bộ sưu tập lớn các sách vở thiêng liêng có giá trị văn hóa và lịch sử đáng kể.
11. Công viên Fenhe
Tọa lạc ở thành phố Thái Nguyên, Công viên Fenhe là một ốc đảo xanh rộng khoảng 20 hecta, nơi mang đến cho du khách không gian yên bình và tươi đẹp để thư giãn và khám phá. Với diện tích rộng lớn, công viên trở thành điểm đến lý tưởng cho những chuyến đi dạo nhẹ nhàng hay những buổi dã ngoại cùng gia đình. Những khu vườn ở đây được chăm sóc tỉ mỉ với cây cối xanh tươi và vô số bông hoa đầy màu sắc tạo nên một khung cảnh huyền ảo, như lấy từ trong tranh vẽ.

Một trong những điểm nhấn đặc biệt của công viên chính là dòng sông Fenhe uốn lượn qua khuôn viên. Du khách có thể trải nghiệm ngồi thuyền lướt nhẹ trên dòng nước, thưởng ngoạn vẻ đẹp êm đềm và trữ tình của thiên nhiên xung quanh. Không chỉ là nơi nghỉ ngơi, Fenhe còn là điểm đến văn hóa với các di tích lịch sử quan trọng. Shengxian Pavilion, với kiến trúc đặc trưng, là điểm ngắm cảnh tuyệt vời, cho cái nhìn bao quát về công viên và sông Fenhe. Đồng thời, Phòng trưng bày nhà Đường là kho tàng của những di vật và hiện vật quý báu, giúp du khách hiểu sâu hơn về lịch sử và văn hóa phong phú của Thái Nguyên.
12. Tượng Phật khổng lồ Mạnh Sơn
Tượng Phật khổng lồ Mạnh Sơn, còn được gọi là Phật khổng lồ Tây Sơn, ban đầu là một tượng Phật trên vách đá phía sau chùa Kaihua ở Mạnh Sơn. Nó được xây dựng vào thời Thiên Bảo (550-559) của triều đại Bắc Tề nhưng bị phá hủy vào cuối thời nhà Nguyên (1271-1368).

Năm 1980, tượng Phật khổng lồ Mạnh Sơn được phát hiện lại. Khi được tìm thấy, phần đầu của tượng Phật đã biến mất (phần đầu của tượng Phật hiện tại sau này mới được đục đẽo). Thi thể của Đức Phật được chôn trong đất và đá, bị phong hóa nghiêm trọng. Từ chân dưới đến cổ Phật khoảng 30m, chiều cao ban đầu khoảng 46m. Xét về chiều cao, tượng Phật Mạnh Sơn là tượng Phật lớn thứ hai trên thế giới, xét về tuổi xây dựng thì đây là tượng Phật bằng đá lớn sớm nhất thế giới.
13. Khu nhà của gia đình Qiao
Quần thể kiến trúc nhà của gia đình Qiao tại tỉnh Sơn Tây, là ngôi nhà cổ nổi tiếng nhất Trung Quốc. Khi đến đây, du khách sẽ được tận mắt chứng kiến kiến trúc nhà ở tư nhân ở miền Bắc Trung Quốc xưa.

Ngôi nhà có kiến trúc truyền thống cổ điển với thiết kế cầu kỳ và trưng bày nhiều món đồ thủ công tinh xảo. Toàn bộ khu phức hợp có hình dạng “喜喜”, có nghĩa là hạnh phúc nhân đôi ở Trung Quốc với 6 sân lớn và 313 phòng.
Khách du lịch hầu hết đều lựa chọn tham quan địa điểm này bởi hiện nay Khu nhà của gia đình Qiao đã trở thành Bảo tàng quốc gia trưng bày các món đồ vật thể hiện phong tục dân gian ở Sơn Tây. Hơn 5.000 di tích văn hóa được lưu giữ tại đây, gồm có những bức tường bình phong, tranh màu, đá cẩm thạch,…
14. Khu nhà của gia đình Wang
Nếu Khu nhà của gia đình Qiao là Mô hình nhà ở tư nhân truyền thống đầy ấn tượng ở miền Bắc Trung Quốc thì Khu nhà của gia đình Wang chính là “Tử Cấm Thành trong dân gian”.

Với diện tích 250.000m2, Khu nhà ở gia đình Wang là ngôi nhà có sân lớn nhất hiện nay ở Sơn Tây và là “Bảo tàng nghệ thuật về những ngôi nhà truyền thống” ở Trung Quốc. Xung quanh có tường bao kiên cố, có 35 sân và 342 căn nhà làm phòng khách, trường tư thục, nhà thờ, nhà thêu và các chức năng khác. Tất cả đều được xây dựng theo một bố cục riêng với những món đồ trang trí đầy tinh tế. Mái hiên màu xám nhiều lớp được chạm khắc bằng gỗ, đá và gạch trở thành một điểm nhấn thu hút du khách đến với nơi đây.
15. Nương Tử Quan
Nương Tử Quan nằm ở Đông Bắc của huyện Bình Định, thuộc ranh giới giữa Sơn Tây và Hà Bắc, là một quan ải trứ danh của Vạn Lý Trường Thành, thôn Nương Tử Quan là một thôn cổ nổi tiếng.

Sơn Tây cũng từng là vùng căn cứ địa cách mạng của Đảng Cộng sản Trung Quốc, các di tích nổi tiếng là tổng bộ Bát lộ quân, công xưởng binh khí Bát lộ quân động Hoàng Nhai ở Lê Thành, nhà kỉ niệm Lưu Hồ Lan ở Văn Thủy.
16. Thác Hukou

Nằm ngay giao lộ của tỉnh Sơn Tây và tỉnh Thiểm tây, Hukou là thác nước lớn thứ 2 ở Trung Quốc. Chiều rộng của thác nước này thay đổi theo mùa, khoảng 30m khi mùa khô nhưng vào mùa mưa có thể tăng lên tới 50m. Đặc biệt, vào mùa Đông, Thác Hukou gây sự thích thú đối với du khách bởi cảnh tượng kì vĩ. Lúc đó nhiệt độ hạ xuống rất thấp nên toàn bộ khu vực đều bị đóng băng, kể cả những dòng nước đang chảy lưng chừng.
Tỉnh Sơn Tây hứa hẹn sẽ mang đến cho du khách những trải nghiệm khó quên và những kỷ niệm đẹp đẽ về mảnh đất cổ kính này. Hãy Book Tour Trung Quốc và cùng chúng tôi tận hưởng những điều tuyệt vời nhất mà vùng đất Sơn Tây mang lại nhé! Chúc du khách có một chuyến đi vui vẻ và đầy thú vị!